THỜI GIAN
Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016
Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016
Mạnh Nhung: KHÔNG ĐỂ LÒNG YÊU NƯỚC BỊ LỢI DỤNG
Mạnh Nhung: KHÔNG ĐỂ LÒNG YÊU NƯỚC BỊ LỢI DỤNG: Lòng yêu nước là tình cảm cao cả, thiêng liêng của mỗi người dành cho quê hương đất nước. Một số người cho rằng phải làm một ...
Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016
Chống “Diễn biến hòa bình” và việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị | ĐẠI BÀNG XANH
Trong quá trình thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá CNXH, trong đó có nước ta, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Để nghiên cứu sâu, có cơ sở lý luận - thực tiễn, từ đó xác định hệ thống giải pháp phòng, chống hiệu quả thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm này, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, chúng ta cần tiếp cận từ gốc của vấn đề - đó là, chiến lược “Diễn biến hòa bình”.
Quá trình hình thành, phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch
Có thể nói, khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của Thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Ngược dòng lịch sử, thậm chí nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Diễn biến hòa bình” nếu xét ở góc độ mục tiêu, tính chất, nội hàm (bao gồm cả hoạt động phản gián, lật đổ) thì xuất hiện từ thời Xuân Thu (Thế kỷ VI, trước Công nguyên), cách đây khoảng 2.700 năm, do Tôn Tử - nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Trung Quốc phát kiến và được nêu tại Thiên 13 của cuốn “Binh pháp Tôn Tử”. Tư tưởng chủ đạo của “Thiên”, hay còn gọi “kế sách” này là “Bất chiến tự nhiên thành”, có nghĩa “không đánh mà thắng”. Có lẽ cũng vì thế mà sau này một số người thường gọi “Diễn biến hòa bình” bằng cái tên rất đặc trưng: “Cuộc chiến tranh không khói súng”. Như vậy, có thể khẳng định: “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị; mà đã là chiến tranh thì dù “có khói súng” (bằng quân sự) hay “không có khói súng” (phi quân sự) cũng đều chung tính chất quyết liệt và chung mục tiêu là tiêu diệt đối phương bằng sức mạnh “Cứng” hay sức mạnh “Mềm”, hoặc kết hợp cả hai nguồn sức mạnh “Cứng” và “Mềm”. Chúng ta thấy, ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do CNĐQ phát kiến, nhưng hiện đang là “sản phẩm” của họ và họ có nó trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.
Không phủ nhận CNĐQ đã đạt được những thành công nhất định trong việc sử dụng và phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong giai đoạn đầu, từ khoảng thập niên 20 đến thập niên 50 của thế kỷ trước “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ xác định là một giải pháp quan trọng, giải pháp kết hợp; trong khi giải pháp quân sự, sử dụng sức mạnh quân sự đóng vai trò quyết định trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Đến giai đoạn kế tiếp, từ khoảng thập niên 50 (CNXH đã phát triển thành hệ thống, gồm 13 nước) đến thập niên 90, cũng như hiện nay, khi điều kiện sử dụng giải pháp quân sự bị thu hẹp và khó thực hiện, trong khi tiến công CNXH là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thì “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ đặc biệt coi trọng và nâng tầm thành chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với việc sử dụng chiến lược nguy hiểm này, CNĐQ đã gây một loạt sự kiện với cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”,… mà thực chất là các hoạt động bạo loạn, lật đổ chính quyền ở một số nước, như: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung ga ri,… vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Đặc biệt, cuối thập niên 80, đầu 90, CNĐQ đã sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá quyết liệt CNXH. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng trong đó có bàn tay chống phá của CNĐQ. Đáng chú ý là, trong quá trình tiến hành “Diễn biến hòa bình”, họ thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là “phi chính trị hóa” quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô hùng mạnh, với bề dày hơn 70 năm xây dựng bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Biểu hiện cụ thể là, Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ và cuối cùng Đảng Cộng sản không còn chỗ dựa, không được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, dẫn tới sụp đổ chế độ XHCN.
Huyênh hoang, tự đắc với chiến quả giành được và nhằm khuyếch trương chiến lược “Diễn biến hòa bình”, những quan chức Nhà Trắng và các triết gia của CNĐQ đã cao giọng dự báo về sự kết thúc của CNXH. Tiêu biểu là Francis Fukuyama - một người Mỹ gốc Nhật Bản - với bài viết “Sự cáo chung của Lịch sử” được công bố lần đầu trên Tạp chí “Lợi ích Quốc gia” Mỹ, số mùa hè 1989, sau này được hoàn chỉnh thành cuốn sách“Sự cáo chung của Lịch sử và con người cuối cùng” xuất bản năm 1992, phát hành rộng rãi ở 14 nước, với nhiều thứ tiếng khác nhau. Ý đồ chính trị của cuốn sách được thể hiện rõ: phủ nhận phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác; phủ nhận giá trị tiến bộ và khoa học của ý thức hệ giai cấp vô sản; tuyên truyền các giá trị của CNTB; luận chứng cho việc thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Tương tự như vậy là cuốn “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” của S. Huntington; trong đó, ông ta biện giải và cho rằng nền văn minh phương Tây là “vô giá”, là “độc nhất vô nhị”. Điển hình trong số đó phải kể đến Tổng thống Mỹ R. Ních Sơn với cuốn sách “Chớp thời cơ” và cuốn “Năm 1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh” nêu dự báo đến cuối Thế kỷ XX các nước XHCN còn lại sẽ “tự sụp đổ”. Đến nay đã giữa thập niên thứ 2 của Thế kỷ XXI, nhưng thực tế thì sao? Mọi người đã rõ và đều thấy rằng đó chỉ là sự võ đoán, hoàn toàn không có cơ sở, hay nói cách khác là sự ảo tưởng phi lý, phi thực tiễn.
Nhưng không vì thế mà chúng ta mất cảnh giác và xem nhẹ “Diễn biến hòa bình”, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, chống phá các nước XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH, trong đó có nước ta, luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của CNĐQ. Chừng nào CNĐQ còn tồn tại thì chừng đó họ còn giữ và theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, tham vọng là một việc, còn đạt được hay không lại là việc khác. Hơn nữa, quyền quyết định trong vấn đề này là ở chúng ta chứ không phải họ, nên cho dù âm mưu của họ có thâm hiểm đến đâu, thủ đoạn có tinh vi, xảo quyệt đến nhường nào thì cuối cùng cũng không tránh khỏi thất bại.
Đối với nước ta, ngay sau khi kết thúc “Chiến tranh Việt Nam” - theo cách gọi của người Mỹ, và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược - theo cách gọi của nhân dân Việt Nam, họ đã nhanh chóng tiến hành một cuộc chiến tranh mới “không khói súng” - “Diễn biến hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ Kitxinhgơ khi đó đã ngạo mạn tuyên bố: “Chúng ta thất bại trong chiến tranh, nhưng sẽ giành chiến thắng trong hòa bình”. Để hiện thực hóa tham vọng, họ đã liên tục tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh,… bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; trong đó, thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Đáng chú ý là những năm gần đây, lợi dụng việc nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,… họ đã sử dụng những hình thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm, hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo khủng hoảng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Đặc biệt, nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân - công cụ bạo lực bảo vệ chế độ XHCN ở nước ta - họ đã phối hợp hoạt động các lực lượng phản động trong và ngoài nước để chống phá toàn diện, kể cả từ hệ thống pháp luật Nhà nước. Điển hình là, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước và Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp cũng như hiện nay đang tổ chức thực thi Hiến pháp mới, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức chống phá dưới dạng tham gia “góp ý”, “kiến nghị”,… trong đó trắng trợn đòi bỏ Điều 4 của Chương I, đòi bỏ hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; rằng, cần phải sửa Chương IV - “Bảo vệ Tổ quốc” với biện giải lố bịch: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, theo đó chỉ có chức năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, chứ không có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào”; rằng, “Quân đội không chịu sự lãnh đạo của Đảng”. Rõ ràng đây là những luận điểm hết sức phản động, hoàn toàn trái với cơ sở lý luận, thực tiễn. Thế nhưng đáng quan ngại là, không phải ai cũng thấy, trong đó có một số ít người do thiếu thông tin và nhận thức hạn chế đã ngộ nhận, cả tin, thậm chí bị “thuyết phục” bởi những luận điệu tuyên truyền độc hại đó. Cũng không nằm ngoài mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, họ còn sử dụng thủ đoạn “vàng thau lẫn lộn”, đánh đồng sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam với binh sĩ quân đội Ngụy quyền Sài Gòn, bằng cách ngụy biện: “họ đều hy sinh vì Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc”, từ đó đòi Nhà nước ta ghi công và cho hưởng chế độ liệt sĩ. Thật nực cười, phi lý! Điều đó cho thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ một thủ đoạn nào hòng đạt cho được mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Và, khi không thực hiện được, họ dở chiêu bài bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Quân đội. Cho nên chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, đồng thời gắn liền với đó, xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị là vấn đề đặc biệt quan trọng, cấp thiết hiện nay.
Thực chất đây là mối quan hệ giữa “bảo vệ và xây dựng”; trong đó, mỗi nội dung có nội hàm riêng, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Khi giải quyết vấn đề này, cần gắn chặt hai nội dung, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào. Sẽ là không đúng, nếu chúng ta chỉ chú trọng một chiều đến yếu tố “bảo vệ”, tức là đấu tranh chống “phi chính trị hóa” quân đội, mà xem nhẹ yếu tố “xây dựng”, mà ở đây là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; tương tự như vậy, nếu chỉ xem trọng yếu tố “xây dựng”, mà không quan tâm đúng mức đến yếu tố “bảo vệ” cũng là sai. Phương pháp nghiên cứu, xem xét và giải quyết đúng đắn vấn đề này là, phải trên cơ sở tư duy biện chứng, khoa học; coi trọng giải quyết đồng bộ cả hai nội dung: đấu tranh làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và đẩy mạnh xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị.
Chủ động đấu tranh làm thất bại thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch
Trước hết, về mặt nhận thức, tư tưởng, cần xác định rõ: CNĐQ, các thế lực thù địch là đối tượng của cách mạng Việt Nam. Họ đã và đang tiến hành chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Do đó, chống “Diễn biến hòa bình” thực sự là “cuộc chiến” không khoan nhượng, diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hết sức quyết liệt, phức tạp. Trong đó, đối tượng mà họ nhằm vô hiệu hóa, trước hết “phi chính trị hóa” là lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là QĐND và Công an nhân dân. Đây là lực lượng có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của họ nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất chỗ dựa vững chắc, mất vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và, một khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị vô hiệu hóa, bị xóa bỏ, thì tất nhiên chế độ XHCN sẽ sụp đổ. Để hiện thực hóa mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội và đạt mục tiêu nêu trên, các thế lực thù địch sử dụng mọi lực lượng, phương tiện, tiền bạc, vật chất và tiến hành bằng mọi biện pháp, mọi “chiêu bài” xảo quyệt, tinh vi, thâm độc, nhưng nhìn chung các hoạt động diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Nội dung mà họ tập trung tuyên truyền chống phá là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Quân đội ta từng bước rời bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, để chống mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đạt hiệu quả cao thì trước hết và quan trọng nhất là phải chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cốt yếu là nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và phải chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, cả lực lượng, phương tiện, vật chất đảm bảo,… với phương pháp tiến hành (cách thức) linh hoạt, chủ động và có hệ thống giải pháp đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong “cuộc chiến” quyết liệt này.
Về lực lượng, cần có lực lượng đấu tranh rộng rãi là toàn dân và lực lượng nòng cốt được tổ chức thành hệ thống trong các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là các viện, trung tâm nghiên cứu, học viện, nhà trường…; trong đó, Quân đội, Công an đóng vai trò xung kích của lực lượng nòng cốt. Những người trong lực lượng nòng cốt phải gồm các nhà nghiên cứu, khoa học có trình độ lý luận chính trị cao, kiến thức rộng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu kinh nghiệm viết bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.
Về phương tiện, gồm các phương tiện truyền thông, đấu tranh trên in-tơ-nét, các trang mạng xã hội, Blog,… kết hợp với các phương thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình và đối tượng. Đối với các cơ quan báo chí, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ, định hướng kịp thời, phân công và phân cấp tuyên truyền về các sự kiện một cách phù hợp; trong đó báo chí quân đội phải là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh chống quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội.
Về phương pháp đấu tranh, cần phải chủ động, linh hoạt, tránh thụ động khi có sự việc phức tạp xảy ra mới tổ chức tuyên truyền, đấu tranh. Quá trình thực hiện phải coi trọng đấu tranh trực diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, hòng làm phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hoặc kích động gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ giữa Quân đội với Công an và Đảng, Nhà nước. Cần kết hợp đấu tranh tuyên truyền chống các luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội một cách thường xuyên với tuyên truyền theo đợt (cao điểm), nhất là vào thời điểm tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và Quân đội.
Về chính sách và cơ chế, cần có chính sách, cơ chế hợp lý nhằm động viên, khuyến khích và bảo vệ những người viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có “phi chính trị hóa” quân đội. Đồng thời, có cơ chế cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền kịp thời và quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng chỉ đạo, quản lý báo chí và sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
Một số giải pháp xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị
Cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã đề cập ở trên, mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ chốt các cấp. Đề cập đến vấn đề này, thoạt nghe có vẻ giáo điều, “muôn thuở”, nhưng thực tế không phải vậy. Trái lại, nó thật sự quan trọng và cấp thiết, nhất là trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” quân đội. Quá trình tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng phải coi trọng mọi đối tượng, coi trọng tính toàn diện; nhưng trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và nội dung trọng tâm là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục giữ vững bản chất giai cấp công nhân, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu cho Quân đội. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp đến đâu cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, luôn trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN. Đồng thời, còn nhằm trang bị “vũ khí luận” cho cán bộ, đảng viên để họ đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Đi đôi với giáo dục chính trị, tư tưởng, cần coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó có mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, quyết định sức mạnh, sự trưởng thành, chiến thắng của QĐND. Vì thế trong thời gian tới chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác này.
Để nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, cần chú trọng kiện toàn cấp ủy gắn với tổ chức chỉ huy đảm bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu; gắn xây dựng cấp ủy viên với cán bộ chủ chốt các cấp; chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương châm: “Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm các vi phạm. Cấp ủy các cấp lãnh đạo chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về tiến hành chuẩn bị tổ chức đại hội đảng nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được làm của Ban Chấp hành Trung ương.
Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,… Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp và là nguồn động lực tinh thần to lớn cho toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.
Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị. Từ thực tiễn, nhất là qua Sơ kết 9 năm thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) chúng ta cần đánh giá đúng thực chất (cả ưu điểm và hạn chế, tồn tại), rút ra những bài học kinh nghiệm, để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới. Trong đó, cần coi trọng nâng cao phẩm chất, năng lực cho chính ủy, chính trị viên để họ hoàn thành tốt chức trách, cương vị được giao; đồng thời, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các mặt công tác, các nhiệm vụ của đơn vị.
Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN của quân và dân ta được tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường; do đó bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, cũng có không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nổi lên là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với Quân đội ta, họ thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” bằng những hình thức, thủ đoạn mới tinh vi, thâm độc. Cùng với đó là những diễn biến phức tạp mới ở Biển Đông, trực tiếp đe dọa đến chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước tình hình trên, chúng ra cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, mọi thông tin được chuyển tải nhanh, lan tỏa rộng, thì công tác này lại càng quan trọng, nhưng trong thực hiện có không ít khó khăn, phức tạp. Vì thế, công tác thông tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác. Trong đó phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng. Trong khi thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy cảm cần gắn với định hướng tư tưởng, giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi những thông tin xấu độc, trái chiều. Trong thời gian qua, nhìn chung chúng ta thực hiện khá tốt công tác này, nhưng bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, vô tình tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.
Một vấn đề không thể thiếu của quá trình xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Quân đội ta đã trải qua 70 năm xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực tiễn luôn vận động, phát triển, nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn rất quý báu, còn nguyên giá trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay. Do đó, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì vậy, Tổng cục Chính trị, các trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường trong Quân đội có vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được quan tâm đầu tư về mọi mặt, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.
GÓC NHÌN KINH TẾ HỌC CHÍNH TRỊ: TRUNG QUỐC XÂY DỰNG 70 KHO CHỨA MÁY BAY TRÁI PHÉP ...
ĐẠI BÀNG XANH: TRUNG QUỐC XÂY DỰNG 70 KHO CHỨA MÁY BAY TRÁI PHÉP ...: 70 kho chứa máy bay Trung Quốc xây trên đảo nhân tạo trái phép ở Biển Đông là mối nguy rất lớn cho những nước trong khu vực, vì chúng có ...
GÓC NHÌN KINH TẾ HỌC CHÍNH TRỊ: TRUNG QUỐC “GÀI” TÊN LỬA SIÊU THANH LÊN TÀU CHỈ HU...
TRUNG QUỐC “GÀI” TÊN LỬA SIÊU THANH LÊN TÀU CHỈ HU...: Trung Quốc đang có nhiều động thái trắng trợn để tăng cường khả năng quân sự ở Biển Đông, gần đây nhất là nâng cấp tàu khu trục nguy hiểm...
Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016
Thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm gần đây, Mỹ và các thế lực thù địch dựng lên cái gọi là “vấn đề nhân quyền ở Việt Nam”, liên tục cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, thiếu tự do dân chủ, đàn áp dân tộc, tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến…
Ngày 31.7.2013, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2013 mang số hiệu H.R.1897, tiếp tục cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, tự do dân chủ; kêu gọi Chính phủ Mỹ gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam. Đây là một hành động xuyên tạc trắng trợn, nhằm bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nước để lấy cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Vậy thực chất “vấn đề nhân quyền ở Việt Nam” hiện nay là gì? Phải nói ngay rằng, đối với Việt Nam hoàn toàn không có “vấn đề nhân quyền”. Từ khi thành lập đến nay, Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền con người và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Quyền con người được phát huy là yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam những năm qua.
“Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam” hiện nay thực chất nằm ở âm mưu chính trị đen tối của Mỹ và các nước phương Tây. Như mọi người đều biết, nhân quyền, hay quyền con người (Human Rights) là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế. Nhân quyền là một trong những thành quả lớn lao của nền văn minh nhân loại, là giá trị mà các quốc gia dân tộc có thể chia sẻ. Quyền con người là quyền của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, vừa mang tính phổ quát toàn thế giới lại mang tính lịch sử cụ thể.
Tính phổ quát của quyền con người ở mỗi quốc gia, không kể hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị - xã hội, kinh tế và văn hoá đều có những giá trị chung giống nhau, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau. Hội nghị toàn thế giới về nhân quyền tại Viên năm 1993 đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan với nhau”[1]..
Tính lịch sử, cụ thể của quyền con người phản ánh những giá trị đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chính trị, lịch sử, văn hoá, tôn giáo. Các quốc gia khi xử lý các quyền con người “Phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực, bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo”[2].. Khi thực hiện các quyền con người phải kết hợp đúng đắn giữa các nguyên tắc và các chuẩn mực nhân quyền của Liên hợp quốc với điều kiện thực tế của nước mình.
Ngày nay, vấn đề quyền con người gắn rất chặt với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia vì nó là một bộ phận của quá trình phát triển nội tại của từng nước. Do vậy, không có mô hình thực hiện nhân quyền cho mọi quốc gia và không thể sao chép nguyên si mô hình bảo đảm nhân quyền của một nước ở châu Mỹ hay châu Âu vào Việt Nam. Mỗi nước có mô hình riêng, đó là lẽ phải không ai chối cãi được, nó đã trở thành những nguyên tắc ứng xử, những chuẩn mực pháp lý quốc tế được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc, trong các bản Tuyên ngôn, các Công ước quốc tế về nhân quyền.
Thế nhưng, từ chỗ cho rằng, nội dung, tiêu chuẩn của nhân quyền là tuyệt đối, bất biến, là ý tưởng chính trị duy nhất, các nước tư bản phát triển, đứng đầu là Mỹ đã giải thích nhân quyền như là những tự do không bị cấm đoán, không bị giới hạn. Mục đích của họ là cổ xuý cho một thứ "tự do hoang dã", vô chính phủ, mà thực chất ở đó chỉ có một thứ "luật rừng" ngự trị; những kẻ mạnh có quyền lực vô biên, những kẻ yếu thì bị tước mất quyền. Đó là thứ tự do phá hoại, tự do dẫn tới huỷ diệt, không phải là tự do chân chính, tự do tạo ra khả năng cho phát triển nhân cách của tất cả mọi người và càng không phải là thứ tự do để thúc đẩy xã hội phát triển tốt đẹp hơn.
Xuất phát động cơ lợi ích riêng, chúng đã dùng ngọn cờ nhân quyền để tiến công chủ nghĩa xã hội và các nhà nước có quan điểm không đồng nhất với họ. Nhân quyền được chủ nghĩa đế quốc đem ra làm thứ “vũ khí” với cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia” để áp đặt giá trị Mỹ, phương Tây lên các quốc gia, dân tộc khác, chống lại nhân loại tiến bộ, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Trên phạm vi quốc tế, sử dụng vấn đề nhân quyền, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến lược "diễn biến hoà bình" diễn ra song song với cuộc đấu tranh vũ trang ngay từ khi Nhà nước công nông đầu tiên ra đời (1917). Từ giữa thập kỷ 80, thế kỷ XX, nhất là dưới thời tổng thống J. Carter (Mỹ), nhân quyền trở thành vấn đề hết sức nóng bỏng và nhạy cảm của xã hội, nó đã trở thành yếu tố gây chia rẽ giữa các dân tộc, tạo cớ tiến hành chiến tranh, gây cảnh tàn phá, chết chóc ở nhiều quốc gia trên thế giới. Lợi dụng cải tổ, cải cách, đổi mới, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chiến lược này kết hợp với bạo loạn, lật đổ hòng làm thay đổi chế độ xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa. Có thể nói các cuộc "cách mạng mầu" ở Đông Âu, "cách mạng hoa nhài" ở Trung Đông, Bắc Phi là những hệ luỵ trực tiếp của đường lối chính trị hoá vấn đề nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trên thế giới. Chẳng thế mà ngày nay các thế lực thù địch đang mơ sẽ có "cách mạng hoa sen" ở Việt Nam.
Hiện nay, việc thực hiện đầy đủ quyền con người hay không ở các quốc gia là một vấn đề khá gay gắt. Xã hội ngày càng phát triển, văn minh và tiến bộ làm cho quyền con người cũng luôn phát triển nên hiện nay, trên thế giới không phải quốc gia nào cũng có thể đảm bảo được tất cả mọi quyền cho công dân của họ. Và nếu vấn đề này được thực thi không chặt chẽ, bọn phản động và các thế lực thù địch bên ngoài nắm bắt được sẽ là một điểm yếu của quốc gia và sẽ trở thành mối đe doạ vô cùng nguy hiểm cho an ninh của đất nước. Vì kẻ thù sẽ triệt để lợi dụng sự yếu kém này kích động nhân dân làm cách mạng phi nghĩa hay mượn tay các thế lực thù địch bên ngoài nhằm để lật đổ chính quyền, thay đổi hệ thống chính trị quốc gia.
Đối với Việt Nam, quan điểm về quyền con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hoá dân tộc và xem xét, chọn lọc những tiêu chuẩn về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng khái niệm nhân quyền hay “quyền con người” là một phạm trù lịch sử: Quyền con người không phải chỉ là các quyền mang tính tự nhiên mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ. Quyền con người bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất, với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị- xã hội ấy. Quyền con người luôn mang tính giai cấp.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác- Lê-nin và chủ nghĩa yêu nước chân chính; là sự kết hợp giữa chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa với truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc Việt Nam, giữa lý luận mác-xít và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Quan điểm trên được Người thể hiện bằng bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, được đọc trong ngày khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”[3].
Kế thừa và phát huy giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm nhất quán và xuyên suốt về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta là: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”[4]. Chúng ta quan niệm không thể có thứ tự do nào mà không có trách nhiệm đi kèm. Bởi lẽ, nếu tự do là tuyệt đối, thì tự do không hạn chế của người này sẽ dẫn tới sự vi phạm quyền con người của người khác và lẽ đương nhiên là đem lại các tai hoạ cho xã hội.
Quyền con người ở nước ta trước hết là quyền được làm công dân của một nước độc lập, tự do, quyền được sống bình đẳng và mức sống không ngừng được nâng cao. Quyền của mỗi người riêng lẻ phải gắn với vận mệnh và quyền của cả cộng đồng và của toàn dân tộc, với nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản, nhân quyền không được cao hơn chủ quyền. Thực thi quyền con người phải dựa trên cơ sở ưu tiên bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, chủ quyền quốc gia. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào những người cộng sản không được phép lơ là, mất cảnh giác trước những luận điệu sai trái về quyền con người của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế.
Từng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và phải trả bằng xương, máu trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam hiểu hơn bao giờ hết giá trị của độc lập, tự do. Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sau như một, kiên trì quan điểm giải quyết vấn đề quyền con người trên nguyên tắc nhân quyền không được cao hơn chủ quyền, bảo đảm quyền con người phải căn cứ vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội và truyền thống văn hoá, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị - tư tưởng, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo) của chúng. Chúng ta chủ trương giải quyết vấn đề quyền con người bằng đối thoại hoà bình và mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và luận điệu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Trước âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành cần tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp sau:
Một là, làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt trong công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền nói chung và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về nhân quyền trên các lĩnh vực chính trị - xã hội nói riêng.
Hai là, tập trung thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban bí thư, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, cải thiện đời sống nhân dân ở các vùng chiến lược, các địa bàn trọng điểm. Thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, quy chế dân chủ ở cơ sở, chính sách đất đai, chính sách cán bộ; nắm chắc tâm tư, tình cảm của quần chúng, vận động các tầng lớp nhân dân đề cao trách nhiệm công dân, giải quyết tốt các mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân, xây dựng sự đồng thuận trong xã hội. Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống.
Ba là, tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đi đôi với kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nghiên cứu ban hành các luật liên quan đến quyền con người; sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật và điều luật không còn phù hợp. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Phổ biến rộng rãi các công ước và văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Namtham gia ký kết; nghiên cứu tham gia các công ước quốc tế về quyền con người.
Bốn là, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá ta ở vùng dân tộc. Cần đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, làm thay đổi rõ nét về mọi mặt kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Làm tốt công tác bảo vệ môi trường; tăng cường quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc và miền núi.
Năm là, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống quy phạm pháp luật về tôn giáo, chấp hành nghiêm Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, chuẩn bị các điều kiện tiến tới xây dựng Luật tín ngưỡng, tôn giáo. Tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế đối với chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cũng như trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tôn giáo - nhân quyền. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại.
[1] Các Văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, Nxb CTQG, H. 2002, tr.43.
[2] Sđd, tr.44.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr 12
[4] Cương lĩnh Cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia 1998. tr.120.
Tác giả: Đại tá, PGS, TS Đỗ Mạnh Tôn
Nguồn: Viện Khoa học Xã hội & Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng
Vậy thực chất “vấn đề nhân quyền ở Việt Nam” hiện nay là gì? Phải nói ngay rằng, đối với Việt Nam hoàn toàn không có “vấn đề nhân quyền”. Từ khi thành lập đến nay, Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền con người và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Quyền con người được phát huy là yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam những năm qua.
“Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam” hiện nay thực chất nằm ở âm mưu chính trị đen tối của Mỹ và các nước phương Tây. Như mọi người đều biết, nhân quyền, hay quyền con người (Human Rights) là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế. Nhân quyền là một trong những thành quả lớn lao của nền văn minh nhân loại, là giá trị mà các quốc gia dân tộc có thể chia sẻ. Quyền con người là quyền của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại, vừa mang tính phổ quát toàn thế giới lại mang tính lịch sử cụ thể.
Tính phổ quát của quyền con người ở mỗi quốc gia, không kể hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị - xã hội, kinh tế và văn hoá đều có những giá trị chung giống nhau, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau. Hội nghị toàn thế giới về nhân quyền tại Viên năm 1993 đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan với nhau”[1]..
Tính lịch sử, cụ thể của quyền con người phản ánh những giá trị đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chính trị, lịch sử, văn hoá, tôn giáo. Các quốc gia khi xử lý các quyền con người “Phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực, bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo”[2].. Khi thực hiện các quyền con người phải kết hợp đúng đắn giữa các nguyên tắc và các chuẩn mực nhân quyền của Liên hợp quốc với điều kiện thực tế của nước mình.
Ngày nay, vấn đề quyền con người gắn rất chặt với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia vì nó là một bộ phận của quá trình phát triển nội tại của từng nước. Do vậy, không có mô hình thực hiện nhân quyền cho mọi quốc gia và không thể sao chép nguyên si mô hình bảo đảm nhân quyền của một nước ở châu Mỹ hay châu Âu vào Việt Nam. Mỗi nước có mô hình riêng, đó là lẽ phải không ai chối cãi được, nó đã trở thành những nguyên tắc ứng xử, những chuẩn mực pháp lý quốc tế được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc, trong các bản Tuyên ngôn, các Công ước quốc tế về nhân quyền.
Thế nhưng, từ chỗ cho rằng, nội dung, tiêu chuẩn của nhân quyền là tuyệt đối, bất biến, là ý tưởng chính trị duy nhất, các nước tư bản phát triển, đứng đầu là Mỹ đã giải thích nhân quyền như là những tự do không bị cấm đoán, không bị giới hạn. Mục đích của họ là cổ xuý cho một thứ "tự do hoang dã", vô chính phủ, mà thực chất ở đó chỉ có một thứ "luật rừng" ngự trị; những kẻ mạnh có quyền lực vô biên, những kẻ yếu thì bị tước mất quyền. Đó là thứ tự do phá hoại, tự do dẫn tới huỷ diệt, không phải là tự do chân chính, tự do tạo ra khả năng cho phát triển nhân cách của tất cả mọi người và càng không phải là thứ tự do để thúc đẩy xã hội phát triển tốt đẹp hơn.
Xuất phát động cơ lợi ích riêng, chúng đã dùng ngọn cờ nhân quyền để tiến công chủ nghĩa xã hội và các nhà nước có quan điểm không đồng nhất với họ. Nhân quyền được chủ nghĩa đế quốc đem ra làm thứ “vũ khí” với cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia” để áp đặt giá trị Mỹ, phương Tây lên các quốc gia, dân tộc khác, chống lại nhân loại tiến bộ, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Trên phạm vi quốc tế, sử dụng vấn đề nhân quyền, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến lược "diễn biến hoà bình" diễn ra song song với cuộc đấu tranh vũ trang ngay từ khi Nhà nước công nông đầu tiên ra đời (1917). Từ giữa thập kỷ 80, thế kỷ XX, nhất là dưới thời tổng thống J. Carter (Mỹ), nhân quyền trở thành vấn đề hết sức nóng bỏng và nhạy cảm của xã hội, nó đã trở thành yếu tố gây chia rẽ giữa các dân tộc, tạo cớ tiến hành chiến tranh, gây cảnh tàn phá, chết chóc ở nhiều quốc gia trên thế giới. Lợi dụng cải tổ, cải cách, đổi mới, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chiến lược này kết hợp với bạo loạn, lật đổ hòng làm thay đổi chế độ xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa. Có thể nói các cuộc "cách mạng mầu" ở Đông Âu, "cách mạng hoa nhài" ở Trung Đông, Bắc Phi là những hệ luỵ trực tiếp của đường lối chính trị hoá vấn đề nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trên thế giới. Chẳng thế mà ngày nay các thế lực thù địch đang mơ sẽ có "cách mạng hoa sen" ở Việt Nam.
Hiện nay, việc thực hiện đầy đủ quyền con người hay không ở các quốc gia là một vấn đề khá gay gắt. Xã hội ngày càng phát triển, văn minh và tiến bộ làm cho quyền con người cũng luôn phát triển nên hiện nay, trên thế giới không phải quốc gia nào cũng có thể đảm bảo được tất cả mọi quyền cho công dân của họ. Và nếu vấn đề này được thực thi không chặt chẽ, bọn phản động và các thế lực thù địch bên ngoài nắm bắt được sẽ là một điểm yếu của quốc gia và sẽ trở thành mối đe doạ vô cùng nguy hiểm cho an ninh của đất nước. Vì kẻ thù sẽ triệt để lợi dụng sự yếu kém này kích động nhân dân làm cách mạng phi nghĩa hay mượn tay các thế lực thù địch bên ngoài nhằm để lật đổ chính quyền, thay đổi hệ thống chính trị quốc gia.
Đối với Việt Nam, quan điểm về quyền con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hoá dân tộc và xem xét, chọn lọc những tiêu chuẩn về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng khái niệm nhân quyền hay “quyền con người” là một phạm trù lịch sử: Quyền con người không phải chỉ là các quyền mang tính tự nhiên mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ. Quyền con người bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất, với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị- xã hội ấy. Quyền con người luôn mang tính giai cấp.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác- Lê-nin và chủ nghĩa yêu nước chân chính; là sự kết hợp giữa chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa với truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc Việt Nam, giữa lý luận mác-xít và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Quan điểm trên được Người thể hiện bằng bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, được đọc trong ngày khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”[3].
Kế thừa và phát huy giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm nhất quán và xuyên suốt về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta là: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”[4]. Chúng ta quan niệm không thể có thứ tự do nào mà không có trách nhiệm đi kèm. Bởi lẽ, nếu tự do là tuyệt đối, thì tự do không hạn chế của người này sẽ dẫn tới sự vi phạm quyền con người của người khác và lẽ đương nhiên là đem lại các tai hoạ cho xã hội.
Quyền con người ở nước ta trước hết là quyền được làm công dân của một nước độc lập, tự do, quyền được sống bình đẳng và mức sống không ngừng được nâng cao. Quyền của mỗi người riêng lẻ phải gắn với vận mệnh và quyền của cả cộng đồng và của toàn dân tộc, với nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản, nhân quyền không được cao hơn chủ quyền. Thực thi quyền con người phải dựa trên cơ sở ưu tiên bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, chủ quyền quốc gia. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào những người cộng sản không được phép lơ là, mất cảnh giác trước những luận điệu sai trái về quyền con người của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế.
Từng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và phải trả bằng xương, máu trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam hiểu hơn bao giờ hết giá trị của độc lập, tự do. Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sau như một, kiên trì quan điểm giải quyết vấn đề quyền con người trên nguyên tắc nhân quyền không được cao hơn chủ quyền, bảo đảm quyền con người phải căn cứ vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội và truyền thống văn hoá, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị - tư tưởng, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo) của chúng. Chúng ta chủ trương giải quyết vấn đề quyền con người bằng đối thoại hoà bình và mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và luận điệu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Trước âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành cần tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp sau:
Một là, làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt trong công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền nói chung và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về nhân quyền trên các lĩnh vực chính trị - xã hội nói riêng.
Hai là, tập trung thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban bí thư, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, cải thiện đời sống nhân dân ở các vùng chiến lược, các địa bàn trọng điểm. Thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, quy chế dân chủ ở cơ sở, chính sách đất đai, chính sách cán bộ; nắm chắc tâm tư, tình cảm của quần chúng, vận động các tầng lớp nhân dân đề cao trách nhiệm công dân, giải quyết tốt các mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân, xây dựng sự đồng thuận trong xã hội. Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống.
Ba là, tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đi đôi với kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nghiên cứu ban hành các luật liên quan đến quyền con người; sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật và điều luật không còn phù hợp. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Phổ biến rộng rãi các công ước và văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Namtham gia ký kết; nghiên cứu tham gia các công ước quốc tế về quyền con người.
Bốn là, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá ta ở vùng dân tộc. Cần đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, làm thay đổi rõ nét về mọi mặt kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Làm tốt công tác bảo vệ môi trường; tăng cường quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc và miền núi.
Năm là, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống quy phạm pháp luật về tôn giáo, chấp hành nghiêm Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, chuẩn bị các điều kiện tiến tới xây dựng Luật tín ngưỡng, tôn giáo. Tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế đối với chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cũng như trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tôn giáo - nhân quyền. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại.
[1] Các Văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, Nxb CTQG, H. 2002, tr.43.
[2] Sđd, tr.44.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr 12
[4] Cương lĩnh Cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia 1998. tr.120.
Nguồn: Viện Khoa học Xã hội & Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
