THỜI GIAN

MỪNG ĐẢNG, MỪNG XUÂN, MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016

Biển Đông Tuần Qua

ASEAN bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông; Philippines cáo buộc Trung Quốc bí mật xây đảo ở Biển Đông; Nga ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về Biển Đông; Đức - Úc hối thúc giải quyết hòa bình tranh chấp biển.

Động thái của các quốc gia
Trung Quốc:
Trung Quốc phủ nhận việc xây dựng ở bãi cạn Scarborough. Đại sứ quán Trung Quốc ở Manilahôm 7/9 xác nhận, “Trung Quốc vẫn duy trì sự hiện diện của một số tàu cảnh sát biển để tuần tra chấp pháp trong khu vực này. Tuy nhiên, tình hình không có gì thay đổi. Không có hoạt động nạo vét hay xây dựng ở đây.” Trong khi đó, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh tuyên bố: “Trung Quốc không có động thái mới nào ở bãi cạn này. Chúng ta cần cảnh giác trước các tin tức đồn thổi vô căn cứ như vậy.”
Trung Quốc phản ứng trước bình luận về Phán quyết của Mỹ, Nhật. Phát biểu sau Hội nghịĐông Á tại Lào hôm 8/9,  Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân tuyên bố: “Tổng cộng 16 trong số 18 quốc gia tại hội nghị, trong đó bao gồm tất cả các nước ASEAN đã ủng hộ nỗ lực chung của Trung Quốc và ASEAN nhằm thúc đẩy đàm phán về COC. Trong khi đó, chỉ có 2 quốc gia đề cập đến phán quyết của tòa trọng tài và nói rằng phán quyết mang tính ràng buộc và các bên cần tuân thủ”. Ông Lưu đã không nêu đích danh Mỹ và Nhật Bản. Trung Quốc đến nay vẫn không công nhận phán quyết của tòa và tuyên bố sẽ tiếp tục các hoạt động xây dựng ở Biển Đông.
Trung Quốc kêu gọi cải thiện quan hệ với Philippines. Trong cuộc hội đàm với Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte bên lề Hội nghị Đông Á ở thủ đô Vientiane, Lào hôm 8/9, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã bày tỏ hy vọng hai bên sẽ hợp tác đưa mối quan hệ song phương trở lại lộ trình bình thường, để phát triển ổn định và lành mạnh. Về phần mình, ông Duterte bày tỏ mong muốn về mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa Philippines và Trung Quốc, khẳng định những tuyên bố trên của Thủ tướng Trung Quốc là một trong những nguyên tắc của ông.
Việt Nam:
Thủ tướng chia sẻ lo ngại về Biển Đông tại Hội nghị ASEAN. Hôm 6/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bắt đầu tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 28-29 và các hội nghị cấp cao liên quan theo lời mời của Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith. Tại các hội nghị trên, Thủ tướng chia sẻ quan điểm, lập trường của Việt Nam về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam ủng hộ những nỗ lực thúc đẩy tình hình ở Biển Đông chuyển biến theo hướng có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển; mong các đối tác tiếp tục đóng góp tích cực cho việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Ngay sau lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN 28-29, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp với Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte. Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh, thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chiều tối 7/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc hội kiến với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Trao đổi về tình hình quốc tế và khu vực, hai nhà Lãnh đạo bày tỏ quan ngại về những diễn biến phức tạp gần đây tại khu vực; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh, ở Biển Đông, đề cao sự thượng tôn pháp luật. Sáng 8/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc hội kiến với Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull. Về vấn đề Biển Đông, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh, hợp tác ở Biển Đông; nhất trí Việt Nam và Úc sẽ tăng cường hợp tác để phấn đấu cho các mục tiêu trên.
Philippines:
Philippines cáo buộc Trung Quốc bí mật xây đảo ở Biển Đông. Bộ Quốc phòng Philippines hôm 7/9 công bố ảnh tàu Trung Quốc chuẩn bị xây dựng ở bãi cạn Scarborough. Các tàu này có khả năng hút cát và thực hiện các hoạt động khác để xây đảo nhân tạo. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Philippines Arsenio Andolong cho biết, Chúng tôi có lý do để tin rằng sự hiện diện của các tàu này báo hiệu những hoạt động xây dựng trên bãi cạn. Philippines sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến đáng lo ngại này.” Các ảnh chụp được công bố vài giờ trước khi diễn ra cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Lào.
Tổng thống Philippines nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp ở Biển Đông. Người phát ngôn tổng thống Philippines Ernesto Abella và Thư ký truyền thông của Tổng thống ông Martin Andanar hôm 7/9 cho biết vấn đề Biển Đông đã được Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nêu ra tại hội nghị ASEAN-Trung Quốc lần thứ 19, “Điều cấp bách là cần tăng cường quan hệ, thúc đẩy du lịch trong khu vực, các bên cùng hợp tác giải quyết các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, biến lời nói thành hành động, không ngừng bảo vệ hòa bình.” Tuy nhiên Tổng thống Duterte không đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài ngày 12/7.
Thái Lan:
Thái Lan ủng hộ nỗ lực của Trung Quốc ở Biển Đông. Phát biểu với Reuters bên lề hội nghị cấp cao ASEAN ở Lào hôm 7/9, Người phát ngôn chính phủ Thái Lan Thiếu tướng Weerachon Sukondhapatipak cho hay, “Thúc đẩy hoà bình và ổn định trên biển là điều quan trọng đối với tất cả các bên và Thái Lan ủng hộ nỗ lực của Trung Quốc trong vấn đề này. Các cuộc thảo luận phải làm giảm bớt nghi ngại giữa các bên.” Khi được hỏi liệu Thái Lan có phải đang đứng về phía Trung Quốc, ông Sukondhapatipak cho hay Thái Lan “muốn thấy hoà bình được duy trì vì lợi ích của tất cả các bên”. Bình luận của Thái Lanđược đưa ra vài giờ sau khi Philippines cung cấp những hình ảnh tàu Trung Quốc ở vùng biển xung quanh bãi cạn Scarborough.
Mỹ:
Mỹ sẽ chuyển giao máy bay quân sự cho Philippines. Người phát ngôn lực lượng cảnh sát biển Philippines ông Armand Balilo hôm 7/9 cho biết Mỹ sẽ chuyển giao cho nước này hai máy bay vận tải quân sự cũ Sherpa 30 vào tháng 12. Ông Balilo tin rằng hai chiếc Sherpa được Mỹ chuyển giao sẽ giúp cảnh sát biển Philippines cải thiện đáng kể khả năng giám sát tình hình Biển Đông.
Tổng thống Mỹ khẳng định cần giải quyết hòa bình tranh chấp biển. Phát biểu tại hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ ở Lào hôm 8/9, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố: “Về tranh chấp biển, chúng ta cần tiếp tục hợp tác để đảm bảo rằng các tranh chấp được giải quyết hòa bình, bao gồm cả Biển Đông. Phán quyết lịch sử của Tòa trọng tài hồi tháng 7, mang tính ràng buộc, đã giúp làm rõ các vấn đề quyền trên biển trong khu vực. Tôi nhận thấy điều này làm gia tăng căng thẳng nhưng tôi cũng trông đợi các thảo luận về cách thức chúng ta có thể đóng góp tích cực giúp hạ nhiệt căng thẳng, thúc đẩy phương thức ngoại giao và sự ổn định trong khu vực.”
Úc:
Úc kêu gọi giải pháp hòa bình các tranh chấp biển. Phát biểu tại Hội nghị Đông Á ngày 8/9 ở thủ đô Vientiane - Lào, Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull khẳng định mọi quốc gia trong khu vực có lợi ích trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Đông Á và Biển Đông. Theo ông Turnbull, Trung Quốc và các bên tranh chấp đang hướng tới thiết lập bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông tuy nhiên không thể nhanh chóng đạt được các đột phá. Thủ tướng Turnbull cũng khẳng địnhphán quyết của Tòa Trọng tài hôm 12/7 là một thực tế và cần phải được tôn trọng.
Nhật Bản:
Nhật Bản quan ngại về hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3 ở Lào hôm 7/9, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố, “Tôi quan ngại sâu sắc trước những nỗ lực đơn phương làm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Hoa Đông. Tôi hy vọng Trung Quốc và Philippines sẽ tuân thủ phán quyết hôm 12/7 của Tòa Trọng tài, vốn mang tính bắt buộc đối với cả hai bên và giúp các bên hướng tới một giải pháp hòa bình cho tranh chấp.”
Nhật Bản cam kết cung cấp máy bay và tàu tuần tra cho Philippines. Trong cuộc gặp bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN và các hội nghị liên quan tại thủ đô Vientiane của Lào, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nhất trí tăng cường hợp tác nhằm đảm bảo một giải pháp hòa bình cho tranh chấp ở Biển Đông. Thủ tướng Abe cũng nhất trí cung cấp hai tàu tuần tra cỡ lớn cho Philippines, đồng thời cam kết cho Manila thuê 5 máy bay do thám. Trước đó ngày 18/8, Philippines đã chính thức tiếp nhận một trong 10 tàu tuần tra do Nhật Bản cung cấp thông qua khoản ODA nhằm tăng cường năng lực biển cho Manila.
Ấn Độ:
Ấn Độ thúc giục các bên tôn trọng luật pháp quốc tế. Tuyên bố chủ tịch về Hội nghị Cấp cao ASEAN-Ấn Độ lần thứ 14 hôm 8/9 khẳng định, “Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình và ổn định, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các bên liên quan giải quyết hòa bình tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Về vấn đề này, Ấn Độ thúc giục các bên tuyệt đối tôn trọng UNCLOS 1982, công ước thiết lập trật tự pháp lý đối với các vùng biển và đại dương toàn cầu.”
Nga:
Nga ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về Biển Đông. Phát biểu trước báo giới tại thành phố Hàng Châu, Trung Quốc ngày 5/9, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho hay, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và tôi đã cùng phát triển mối quan hệ tin cậy và thân thiện. Nhưng tôi xin nhấn mạnh ông ấy chưa bao giờ đề nghị tôi đưa ra bình luận hay can thiệp gì vào vấn đề Biển Đông. Chúng tôi dĩ nhiên có quan điểm riêng về vấn đề Biển Đông. Đầu tiên là Nga không can thiệp, và chúng tôi tin rằng bất cứ sự can thiệp nào của một cường quốc bên ngoài khu vực cũng chỉ ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề này. Theo quan điểm của tôi, sự can thiệp của bên thứ ba là các cường quốc bên ngoài khu vực đều là thiếu tính xây dựng và gây hại". Liên quan đến phán quyết của tòa trọng tài, Ông Putin nói: Chúng tôi thống nhất và ủng hộ lập trường của Trung Quốc trong vấn đề này, không công nhận phán quyết mà tòa đưa ra.”
Quan hệ các nước
Việt - Pháp nhấn mạnh giải quyết tranh chấp biển trên cơ sở luật pháp. Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp François Hollande đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 5 đến ngày 7/9/2016. Tuyên bố chung sau chuyến thăm cho hay, “Hai nhà Lãnh đạo khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải, hàng không ở khu vực. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982. Sau phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực ngày 12/7, hai bên khẳng định tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ DOC ở Biển Đông, ủng hộ các nỗ lực nhằm đạt được COC.
Đức - Úc hối thúc giải quyết hòa bình tranh chấp Biển Đông. Tuyên bố chung sau cuộc gặp giữa các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng của hai nước tại Berlin hôm 6/9 nêu rõ: Các Bộ trưởng ghi nhận hòa bình và ổn định ở Biển Đông là một vấn đề quan tâm toàn cầu. Các Bộ trưởng đã hối thúc tất cả các bên kiềm chế, xoa dịu căng thẳng và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS. Các Bộ trưởng tái khẳng định với tất cả các nước tầm quan trọng của việc duy trì trật tự quốc tế hiện nay trên cơ sở luật lệ.
ASEAN bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông. Trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 28 - 29 và các hội nghị liên quan tại thủ đô Vientiane chiều 7/9, Hội nghị đã ra Tuyên bố Chủ tịch. Trong đó về Biển Đông, các nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Các nhà lãnh đạo ASEAN tái khẳng định sự cần thiết cần tăng cường lòng tin, kiềm chế và tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình và theo đuổi việc giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS năm 1982; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không quân sự hóa và kiềm chế trong mọi hoạt động; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC ở Biển Đông. Bên cạnh việc ghi nhận đà tiến triển và giai đoạn mới trong quá trình tham vấn, các nhà lãnh đạo ASEAN cũng kêu gọi tất cả các bên khẩn trương làm việc nhằm sớm đạt được một COC hữu hiệu ở Biển Đông. Chiều 8/9đã diễn ra Hội nghị Cấp cao Đông Á giữaASEAN và các nước đối tác đối thoại. Tuyên bố chung của Hội nghị khẳng định, “Lãnh đạo các nước đề cao việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó cóUNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, kiềm chế không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không quân sự hóa, ủng hộ ASEAN và Trung Quốc thực hiện đầy đủ và hiệu quảDOC ở Biển Đông và sớm hoàn tất COC.
ASEAN - Trung Quốc cam kết kiềm chế ở Biển Đông. Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 19 đã diễn ra hôm 7/9 tại Vientiane (Lào). Kết thúc Hội nghị, các nhà Lãnh đạo đã thông qua Tuyên bố chung Cấp cao kỷ niệm 25 năm quan hệ ASEAN-Trung Quốc, trong đó khẳng định, “Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Hai bên đã thông qua Tuyên bố chung về Áp dụng Bộ Quy tắc Ứng xử tránh Va chạmBất ngờ trên Biển ở Biển Đông; Tài liệu hướng dẫn sử dụng đường dây nóng giữa Quan chức Cao cấp của Bộ Ngoại giao ASEAN và Trung Quốc để ứng phó với các sự cố khẩn cấp trên biển khi Thực thi DOC. Hai bên hoan nghênh các thành tố để hoàn tất việc thực thi Các Biện pháp Thu hoạch sớm vào cuối năm 2016 và hoàn tất tham vấn về dự thảo khung COC trong nửa đầu năm 2017.”
Việt - Ấn kêu gọi các nước giải quyết hòa bình tranh chấp biển. Nhận lời mời của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước Cng hòa Ấn Đ Narendra Modi đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 2-3/9/2016. Tuyên bố chung sau chuyến thăm cho hay, “Ghi nhận Phán quyết ngày 12/7 /2016 của Tòa Trọng tài được thành lập theo phụ lục VII của UNCLOS năm 1982, hai bên nhấn mạnh sự ủng h đối với hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, và thương mại không bị cản trở, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc được phản ánh trong UNCLOS. Hai bên cũng ghi nhn rằng, các tuyến hàng hải lưu thông qua Biển Đông là hết sức quan trọng đối với hòa bình, ổn định, thịnh vượng và phát triển. Việt Nam và Ấn Đ, với tư cách là các quốc gia thành viên của UNCLOS, hối thúc các bên thể hiện tôn trọng cao nhất đối với UNCLOS, văn kiện thiết lập trạt tự pháp lý quốc tế tại các vùng biển và đại dương.
Nhật Bản - Úc khẳng định lập trường chung về Biển Đông. Trong cuộc gặp kéo dài gần 1 giờ bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN+3 tại Lào hôm 7/9, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và người đồng cấp Úc Malcolm Turnbull đã nhất trí về tầm quan trọng của việc duy trì trật tự dựa trên luật pháp. Hai nhà lãnh đạo đã tái khẳng định vấn đề Biển Đông cần được giải quyết hòa bình theo luật pháp quốc tế, trong đó có phán quyết hồi tháng 7 của Tòa trọng tài ở La-Hay. Hai bên tái khẳng định phản đối mạnh mẽ các nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng. Hai Thủ tướng cũng cam kết thúc đẩy hợp tác an ninh và quốc phòng song phương trong môi trường an ninh ngày càng khắc nghiệt ở châu Á-Thái Bình Dương.
Phân tích và đánh giá
Sự thất bại trong chính sách ‘bắt nạt’ của Bắc Kinh“ của Brad Glosserman và Brian Moore
Kể từ khi đánh giá sai về cân bằng quyền lực sau cuộc Đại Khủng hoảng những năm 2008, 2009 (Trung Quốc cho rằng Mỹ bị suy yếu rất nhiều) nên Bắc Kinh đã thực hiện một loạt những hành vi gây căng thẳng đối đầu trên Biển Đông và Biển Hoa Đông, những căng thẳng và lời đe dọa đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Anh và các nước láng giềng. Những hành động này đã gây ra nhiều vấnđề hơn là thành công như Trung Quốc mong đợi.
Nguyên tắc chỉ đạo của ngoại giao Trung Quốc trong suốt hai thập kỷ vừa qua là chiến lược của Đặng Tiểu Bình: lặng lẽ quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời, quyết không đi đầu. Các hành động ngày càng hung hăng từ Bắc Kinh chằng có chút gì phù hợp với lời khuyên “bình tĩnh ứng phó” và “tránh khoa trương” của ông Đặng Tiểu Bình.
Có một số lời giải thích cho cách hành xử của Bắc Kinh. Một là các quan chức Trung Quốc thuần túy tin rằng cân bằng sức mạnh trong khu vực đã chuyển dịch và có thể thực sự tin rằng lời chỉ dẫn của Đặng Tiểu Bình đã không còn áp dụng được cho Trung Quốc ngày nay nữa.
Lời giải thích thứ hai nhấn mạnh vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ trên khắp Trung Quốc.
Khả năng thứ ba là Trung Quốc nghĩ rằng tạo áp lực sẽ đem lại kết quả .
Cũng theo logic này, một lập luận khác được đưa ra là Trung Quốc cần nhắc nhở các nước khác rằng chống lại mong muốn của Trung Quốc sẽ để lại hậu quả.
Tuy nhiên không có dấu hiệu nào chứng tỏ Nhật Bản đã mềm hóa vị thế trong tranh chấp với Trung Quốc, và áp lực đối với Hàn Quốc và Úc đã phản tác dụng. Lời khẳng định rằng tạo áp lực đem lại kết quả tốt cũng không tính đến những phản ứng dữ dội chống lại Trung Quốc khắp châu Á và những ồn ào ngày càng tăng về quan hệ an ninh gắn bó hơn giữa Mỹ với các chính phủ trong khu vực.
Trong khi tất cả những ảnh điều này có khả năng ảnh hưởng tới ngoại giao Trung Quốc, một lời lý giải đáng lo ngại nhất: Giới lãnh đạo Trung Quốc, dưới thời Tập Cận Bình, đang trở nên đoàn kết ở cấp độ cao nhất trong việc đưa ra quyết định và có rất ít cách cũng như để thách thức hay thay đổi động lực của chính sách đối ngoại một khi nó đã được đề ra. Một đường lối cứng rắn là một đường lối an toàn và vắng bóng sự điều chỉnh từ cấp cao, điều mà một vài người coi là sự thừa nhận thất bại, chính sách nguyên trạng càng chiếm ưu thế và được củng cố.
Điều này đặt ra thách thức nguy hiểm tới Mỹ và các nước trong khu vực. Họ không thể lùi bước vì điều đó sẽ kích thích Trung Quốc hành động hung hăng hơn nữa. Họ cũng phải tránh đường lối cứng rắn dồn Trung Quốc vào bước đường cùng và ép nước này đối đầu với các nước khác vốn đầy lòng tự hào và tinh thần dân tộc. Tóm lại, các nước khác cần giúp Trung Quốc tránh khỏi cái hố đào sẵn để bảo vệ lợi ích của chính các nước này và giữ thể diện cho Trung Quốc. Đây là một lối hẹp và khó thực hiện nhưng cuối cùng cũng chính là điều mà các nhà lãnh đạo cần.
Ngày 7/9, Philippines đã cáo buộc Trung Quốc bí mật chuẩn bị xây dựng một hòn đảo nhân tạo trên Bãi cạn Scarborough - một tiền đồn nhỏ ngoài khơi ở khu vực đang tranh chấp trên Biển Đông. Hành động này của Trung Quốc, nếu là thật, có nguy cơ làm nổ ra cuộc đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ.
Tại sao nó mang tầm quan trọng?
Trung Quốc đã hành động quyết liệt trong những năm gần đây để củng cố các yêu sách chủ quyền của nước này ở hầu hết Biển Đông, áp đặt sự kiểm soát quân sự ở vùng biển này và do đó làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ.
Trung Quốc đã xây dựng các đảo nhân tạo ở khu vực quần đảo Trường Sa, một địa điểm chiến lược ở phía Nam Biển Đông. Các đảo này có thể sẽ trở thành tiền đồn quân sự của Trung Quốc. Với vị trí địa lý mang tính chiến lược, sự hình thành một tiền đồn quân sự khác tại Bãi cạn Scarborough sẽ được xem là yếu tố cần thiết cuối cùng để Trung Quốc hoàn tất tham vọng kiểm soát vùng biển này. Một tiền đồn trên Bãi cạn Scarborough cũng sẽ giúp Trung Quốc triển khai các máy bay chiến đấu và tên lửa của mình để dễ dàng tấn công các lực lượng Mỹ đồn trú ở Philippines.
Bãi cạn này cũng nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc Biển Đông, bởi vậy sự hiện diện của một tiền đồn quân sự của Trung Quốc tại đây có thể ngăn chặn hải quân các nước khác sử dụng tuyến đường biển quan trọng này.
Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?
Trung Quốc tuyên bố phủ nhận và không công nhận phán quyết của Tòa Tọng tài, đồng thời sẽ tiếp tục việc xây dựng các đảo nhân tạo. Tuy nhiên, trong những ngày gần đây, nước này đã phủ nhận các hoạt động xây dựng trên bãi cạn ScarboroughTổng thống Mỹ Barack Obama được cho là đã trực tiếp cảnh báo Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về hoạt động xây đảo ở bãi cạn này và đề ra cái gọi là “giới hạn đỏ”. Tuy nhiên, theo chuyên gia an ninh John Blaxland tại Trường châu Á và Thái Bình Dương thuộc Đại học Quốc gia Úc, Trung Quốc có thể tìm cách nhanh chóng xây dựng đảo tại đây trước khi ông Obama kết thúc nhiệm kỳ tổng thống vào tháng 1/2017. Ông Blaxland cho rằng Trung Quốc có thể tìm cách tận dụng điều mà họ coi là sự “suy yếu” của Tổng thống Mỹ. Trao đổi với hãng tin AFP, ông Blaxland nói: “Trung Quốc có thể tính toán rằng giờ là thời điểm để làm điều đó bởi họ sẽ không vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ”.
Liệu thực sự có nguy cơ đối đầu quân sự?
Trung Quốc đã chứng tỏ rằng họ đang sẵn sàng sử dụng vũ lực để thực thi các yêu sách ở Biển Đông. Trung Quốc đã giành kiểm soát quần đảo Hoàng Sa năm 1974 sau vụ đụng độ với Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988 cũng đã cướp đi sinh mạng của gần 70 binh sĩ Việt Nam.
Giáo sư Carl Thayer, tại Đại học New South Wales, Úc, cho rằng Washington không muốn dấn thân vào một cuộc chiến với Bắc Kinh nhưng xung đột là điều khó tránh khỏi.
Tân Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã giao trọng trách quan trọng, chữa trị “khối u ác tính” trong quan hệ của Philippines với Trung Quốc cho Ngoại trưởng Perfecto Yasay Jr., người nổi tiếng vì đã hai lần vượt qua căn bệnh ung thử hiểm nghèo. Tuy nhiên, đây chắc chắn không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Phán quyết của Tòa Trọng tài là nền tảng căn bản để ông Yasay bắt đầu công việc của mình và ông đã có sự khởi đầu khôn ngoan khi không tỏ ra hả hê với chiến thắng sau phán quyết của tòa. Ông cho rằng chính quyền tiền nhiệm đã thiếu tế nhị khi đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài và rằng đã đến lúc để quá khứ lùi vào dĩ vãng. Tuy nhiên, song song với đó, ông vẫn thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối với luật pháp quốc tế cho quan điểm của Manila. 
Diễn biến tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Vientiane hoàn toàn phù hợp với mong muốn của ông Yasay khi ASEAN không đề cập đến vấn đề tranh chấp Biển Đông trong thông cáo của mình. Điều này giúp Philippines xích lại gần hơn với quan điểm của Bắc Kinh cho rằng Biển Đông là các vấn đề song phương và không phải vấn đề mà ASEAN phải dành quá nhiều sự quan tâm. Ông đã chia sẻ với báo giới hôm 29/8 về cách tiếp cận của mình rằng một tuyên bố của ASEAN tán thành việc tôn trọng luật pháp quốc tế và cam kết đảm bảo trật tự dựa trên luật lệ là đủ. Ông khẳng định cách tiếp cận này sẽ tránh được việc ASEAN bị cho là đang liên kết để cùng chống lại Trung Quốc.
Căng thẳng giữa hai nước có thể sẽ được gác lại nếu quan hệ song phương có sự cải thiện trên nhiều khía cạnh khác. Chính quyền Duterte sẽ chào đón các nguồn tài trợ của Trung Quốc để sửa chữa cơ sở hạ tầng đổ nát trên khắp đất nước.
Có lẽ vẫn còn quá sớm để có thể kết luận về những phản ứng của Bắc Kinh, song nhiều người đã tỏ ra không mấy lạc quan về các triển vọng trong thời gian tới.
Hồi đầu tháng 8 vừa qua khi ông Duterte đề xuất cựu Tổng thống Fidel Ramos tìm cách thúc đẩy đối thoại với Trung Quốc, Bắc Kinh đã phản ứng bằng cách cử Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Phó Oánh, người được biết đến với quan điểm cứng rắn trong chính sách đối ngoại, tham gia các cuộc thảo luận với ông Ramos. Nhiều người ở Manila cảm thấy bị coi thường khi Trung Quốc không cử một nhân vật cấp cao hơn tới cuộc gặp với nhà lãnh đạo kỳ cựu của mình. 
Philippines là thành viên thứ hai của ASEAN, sau Malaysia, công nhận quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Việc sửa chữa những thiệt hại trong mối quan hệ song phương với Manila, nhất là khi chủ nghĩa dân tộc hiện nay tại Philippines được xác định là các tư tưởng chống Trung Quốc, có thể coi là một đòi hỏi bắt buộc nếu Bắc Kinh muốn khôi phục các mối quan hệ hiện đang vô cùng phức tạp với Đông Nam Á. Khu vực này chính là sân sau của Trung Quốc, và rõ ràng “hàng xóm tốt làm nên hàng rào chắc”. Ông Yasay từng nhấn mạnh: “Nếu Trung Quốc khăng khăng không thừa nhận một hệ thống được xây dựng bằng các nguyên tắc và luật lệ, họ sẽ bị cô lập. Trung Quốc có rất nhiều thứ để mất”.
Mặc dù ở khía cạnh nào đó Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn chặn các nước thành viên ASEAN nêu vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, những nỗ lực cải thiện quan hệ không ngừng với các nước ASEAN của ông Obama sẽ để lại những tác dụng lâu dài.
Cuộc họp có tính biểu tượng cao, mang tính lịch sử là Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Mỹ được tổ chức tại Sunnylands, Califorrnia, tháng 2/2016. Điểm đáng chú ý là khách mời của Hội nghị ASEAN - Mỹ là Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Đây được xem như là “thông điệp chiến lược” của Washington đối với những hành động ngang tàng của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Quan hệ với cộng đồng ASEAN ngày nay không chỉ đơn thuần là vấn đề chính trị hay chiến lược; và nếu chỉ nhìn vào vấn đề Biển Đông hay cạnh tranh với Trung Quốc thì quá đơn giản và thiếu sót.
Về kinh tế, kinh tế gộp lại của 10 quốc gia ASEAN hiện là 2.500 tỷ USD, đứng thứ ba châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Thương mại song phương (hàng hóa và dịch vụ) ASEAN - Mỹ đạt gần 100 tỷ USD. ASEAN hiện được xếp trong top các nước có quan hệ thương mại cao với Mỹ trong những năm gần đây. Cổ phiếu đầu tư của Mỹ tại ASEAN là khoảng 200 tỷ USD, cao hơn tổng đầu tư của Mỹ tại Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và New Zealand gộp lại. Chiều ngược lại, đầu tư của các nước ASEAN vào Mỹ đạt gần 30 tỷ USD, tăng 1.400 lần trong thập kỷ qua.
Về du lịch, quan hệ du lịch ASEAN - Mỹ đang phát triển tốt; hơn 3 triệu du khách Mỹ thăm ASEAN hàng năm và các du khách từ ASEAN chi khoảng 4 tỷ USD mỗi năm ở Mỹ.
Về con người, một yếu tố thường bị đánh giá thấp hơn trong quan hệ ASEAN - Mỹ, trong tổng số 17 triệu người Mỹ gốc Á thì 6 triệu người đến từ các nước ASEAN, tương đương 36%. Trong số 18 bang của Mỹ thì có đến hơn 40% người Mỹ gốc Á nhận mình là người cộng đồng ASEAN. Cộng đồng người Mỹ gốc ASEAN sẽ đóng góp khoảng 11% cử tri Mỹ trong tương lai gần. Mỹ và ASEAN cũng đang xích lại gần nhau hơn thông qua các thành phố, các bang kết nghĩa.
Về giáo dục, số lượng du học sinh ASEAN tại Mỹ đã tăng 30% trong thập kỷ qua và đóng góp khoảng 1,4 tỷ USD cho kinh tế Mỹ. Sáng kiến những nhà Lãnh đạo trẻ Đông Nam Á của Tổng thống Obama là một nỗ lực lớn nhằm kết nối các thế hệ chuyên gia, nghệ sĩ, doanh nhân Đông Nam Á với các thế hệ tiếp theo của Mỹ để chia sẻ tầm nhìn về tương lai chung.
Các nước ASEAN cũng đang ngày càng hội nhập với thế giới và trở nên tích cực hơn trên trường quốc tế. Mỹ phải làm việc chặt chẽ với những chính phủ các nước ASEAN về nhiều vấn đề khác nhau, từ bệnh dịch y tế, thảm họa tự nhiên, chống chủ nghĩa khủng bố đến biến đổi khí hậu.
Có thể nói việc tăng cường quan hệ song phương ASEAN - Mỹ cũng như giữa Mỹ với 10 nước ASEAN là điều quan trọng; hơn nữa, nếu nhìn vào cách Mỹ và ASEAN kết nối và hành động hiệu quả hiện nay thì rất lạc quan. Thực tế một nhóm nước đa dạng như ASEAN, sống dưới bóng của Trung Quốc, duy trì quan hệ chặt chẽ và lâu dài với Mỹ là lợi ích giá trị cần tiếp tục nuôi dưỡng.
Tại Hà Nội, Thủ tướng Modi và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chứng kiến lễ ký 12 hiệp định song phương, trong đó có một hiệp định về bán các tàu tuần tra cao tốc do Ấn Độ đóng cho Việt Nam mà khoản tiền trả nằm trong gói tín dụng 100 triệu USD được New Delhi dành cho Việt Nam trước đó. Và với mục đích “tạo điều kiện hợp tác quốc phòng sâu hơn”, Thủ tướng Modi đã dành thêm gói tín dụng 500 triệu USD cho Việt Nam. Hai nhà lãnh đạo cũng ra một tuyên bố chung về nhiều vấn đề, đáng chú ý nhất là tự do hàng hải ở Biển Đông. Sau cuộc gặp, Thủ tướng Modi và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tuyên bố quan hệ đối tác chiến lược giữa Ấn Độ và Việt Nam được nâng lên thành quan hệ đối tác chiến lược “toàn diện”. 
Hiện Việt Nam mới chỉ có hai “mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”, một là với Trung Quốc và hai là với Nga, nhưng hai mối quan hệ đặc biệt này hiện đang bị nghi ngờ. Trung Quốc hiện là mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh và chủ quyền của Việt Nam khi đòi hỏi cả vùng lãnh thổ và vùng biển mà Hà Nội tuyên bố là của mình. Mối quan hệ của Nga với Việt Nam hiện cũng bị nghi ngờ vì sự liên kết ngày càng tăng giữa Moskva với Bắc Kinh. Do đó, New Delhi dường như là đối tác tin cậy nhất của Hà Nội. 
Không có gì ngạc nhiên khi Việt Nam, Nhật Bản, Singapore, Úc, Philippines, và Mỹ trong thập niên này đều muốn Ấn Độ can dự vào các vấn đề của khu vực bất ổn này. New Delhi cũng không thể tránh khỏi việc nước này có liên quan tới những gì xảy ra trong vùng biển Đông Á. Các đảo phía Đông của Ấn Độ chỉ cách Eo biển Malacca khoảng 144 km về phía Tây và Biển Đông lại nối liền hai đại dương lớn mà sự thịnh vượng của Ấn Độ ngày càng phụ thuộc đó. Ấn Độ bị chia cắt với phần còn lại của châu Á bởi bởi dãy núi Himalaya nên các doanh nghiệp Ấn Độ đặc biệt phụ thuộc vào thương mại đường biển. Cụ thể, khoảng 55% hàng hóa thương mại của Ấn Độ đi qua Biển Đông. 
Điều đó làm cho New Delhi quan tâm đến những gì xảy ra ở tuyến đường biển rất quan trọng này. Nhà phân tích Brahma Chellaney hồi năm ngoái cho hay: “Việc củng cố quyền lực của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Ấn Độ ở sân sau của mình là Ấn Độ Dương. Trên thực tế, động thái yên tĩnh của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, nơi nước này đang bị ngáng chân bởi lợi thế địa lý tự nhiên của Ấn Độ, là tập trung sức mạnh để ra đòn quyết đoán hơn nhằm giành sự thống trị ở Biển Đông. Nếu Trung Quốc thành công ở Biển Đông, nước này sẽ trở nên quyết đoán hơn nhiều đối với các nước láng giềng của mình, trong đó có Ấn Độ”. 
New Delhi hiểu những lợi ích của mình bị ảnh hưởng bởi những vụ việc nằm xa biên giới của mình và đó là lý do giải thích tại sao ông Modi không ngần ngại phát triển và thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện của Ấn Độ với Việt Nam./.http://nghiencuubiendong.vn/

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016

Chống “Diễn biến hòa bình” và việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị | ĐẠI BÀNG XANH

Trong quá trình thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá CNXH, trong đó có nước ta, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Để nghiên cứu sâu, có cơ sở lý luận - thực tiễn, từ đó xác định hệ thống giải pháp phòng, chống hiệu quả thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm này, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, chúng ta cần tiếp cận từ gốc của vấn đề - đó là, chiến lược “Diễn biến hòa bình”.
Quá trình hình thành, phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch
Có thể nói, khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của Thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Ngược dòng lịch sử, thậm chí nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Diễn biến hòa bình” nếu xét ở góc độ mục tiêu, tính chất, nội hàm (bao gồm cả hoạt động phản gián, lật đổ) thì xuất hiện từ thời Xuân Thu (Thế kỷ VI, trước Công nguyên), cách đây khoảng 2.700 năm, do Tôn Tử - nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Trung Quốc phát kiến và được nêu tại Thiên 13 của cuốn “Binh pháp Tôn Tử”. Tư tưởng chủ đạo của “Thiên”, hay còn gọi “kế sách” này là “Bất chiến tự nhiên thành”, có nghĩa “không đánh mà thắng”. Có lẽ cũng vì thế mà sau này một số người thường gọi “Diễn biến hòa bình” bằng cái tên rất đặc trưng: “Cuộc chiến tranh không khói súng”. Như vậy, có thể khẳng định: “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị; mà đã là chiến tranh thì dù “có khói súng” (bằng quân sự) hay “không có khói súng” (phi quân sự) cũng đều chung tính chất quyết liệt và chung mục tiêu là tiêu diệt đối phương bằng sức mạnh “Cứng” hay sức mạnh “Mềm”, hoặc kết hợp cả hai nguồn sức mạnh “Cứng” và “Mềm”. Chúng ta thấy, ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do CNĐQ phát kiến, nhưng hiện đang là “sản phẩm” của họ và họ có nó trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.
Không phủ nhận CNĐQ đã đạt được những thành công nhất định trong việc sử dụng và phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong giai đoạn đầu, từ khoảng thập niên 20 đến thập niên 50 của thế kỷ trước “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ xác định là một giải pháp quan trọng, giải pháp kết hợp; trong khi giải pháp quân sự, sử dụng sức mạnh quân sự đóng vai trò quyết định trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Đến giai đoạn kế tiếp, từ khoảng thập niên 50 (CNXH đã phát triển thành hệ thống, gồm 13 nước) đến thập niên 90, cũng như hiện nay, khi điều kiện sử dụng giải pháp quân sự bị thu hẹp và khó thực hiện, trong khi tiến công CNXH là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thì “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ đặc biệt coi trọng và nâng tầm thành chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với việc sử dụng chiến lược nguy hiểm này, CNĐQ đã gây một loạt sự kiện với cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”,… mà thực chất là các hoạt động bạo loạn, lật đổ chính quyền ở một số nước, như: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung ga ri,… vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Đặc biệt, cuối thập niên 80, đầu 90, CNĐQ đã sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá quyết liệt CNXH. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng trong đó có bàn tay chống phá của CNĐQ. Đáng chú ý là, trong quá trình tiến hành “Diễn biến hòa bình”, họ thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là “phi chính trị hóa” quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô hùng mạnh, với bề dày hơn 70 năm xây dựng bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Biểu hiện cụ thể là, Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ và cuối cùng Đảng Cộng sản không còn chỗ dựa, không được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, dẫn tới sụp đổ chế độ XHCN.
Huyênh hoang, tự đắc với chiến quả giành được và nhằm khuyếch trương chiến lược “Diễn biến hòa bình”, những quan chức Nhà Trắng và các triết gia của CNĐQ đã cao giọng dự báo về sự kết thúc của CNXH. Tiêu biểu là Francis Fukuyama - một người Mỹ gốc Nhật Bản - với bài viết “Sự cáo chung của Lịch sử” được công bố lần đầu trên Tạp chí “Lợi ích Quốc gia” Mỹ, số mùa hè 1989, sau này được hoàn chỉnh thành cuốn sách“Sự cáo chung của Lịch sử và con người cuối cùng” xuất bản năm 1992, phát hành rộng rãi ở 14 nước, với nhiều thứ tiếng khác nhau. Ý đồ chính trị của cuốn sách được thể hiện rõ: phủ nhận phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác; phủ nhận giá trị tiến bộ và khoa học của ý thức hệ giai cấp vô sản; tuyên truyền các giá trị của CNTB; luận chứng cho việc thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Tương tự như vậy là cuốn “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” của S. Huntington; trong đó, ông ta biện giải và cho rằng nền văn minh phương Tây là “vô giá”, là “độc nhất vô nhị”. Điển hình trong số đó phải kể đến Tổng thống Mỹ R. Ních Sơn với cuốn sách “Chớp thời cơ” và cuốn “Năm 1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh” nêu dự báo đến cuối Thế kỷ XX các nước XHCN còn lại sẽ “tự sụp đổ”. Đến nay đã giữa thập niên thứ 2 của Thế kỷ XXI, nhưng thực tế thì sao? Mọi người đã rõ và đều thấy rằng đó chỉ là sự võ đoán, hoàn toàn không có cơ sở, hay nói cách khác là sự ảo tưởng phi lý, phi thực tiễn.
Nhưng không vì thế mà chúng ta mất cảnh giác và xem nhẹ “Diễn biến hòa bình”, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, chống phá các nước XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH, trong đó có nước ta, luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của CNĐQ. Chừng nào CNĐQ còn tồn tại thì chừng đó họ còn giữ và theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, tham vọng là một việc, còn đạt được hay không lại là việc khác. Hơn nữa, quyền quyết định trong vấn đề này là ở chúng ta chứ không phải họ, nên cho dù âm mưu của họ có thâm hiểm đến đâu, thủ đoạn có tinh vi, xảo quyệt đến nhường nào thì cuối cùng cũng không tránh khỏi thất bại.
Đối với nước ta, ngay sau khi kết thúc “Chiến tranh Việt Nam” - theo cách gọi của người Mỹ, và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược - theo cách gọi của nhân dân Việt Nam, họ đã nhanh chóng tiến hành một cuộc chiến tranh mới “không khói súng” - “Diễn biến hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ Kitxinhgơ khi đó đã ngạo mạn tuyên bố: “Chúng ta thất bại trong chiến tranh, nhưng sẽ giành chiến thắng trong hòa bình”. Để hiện thực hóa tham vọng, họ đã liên tục tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh,… bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; trong đó, thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Đáng chú ý là những năm gần đây, lợi dụng việc nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,… họ đã sử dụng những hình thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm, hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo khủng hoảng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Đặc biệt, nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân - công cụ bạo lực bảo vệ chế độ XHCN ở nước ta - họ đã phối hợp hoạt động các lực lượng phản động trong và ngoài nước để chống phá toàn diện, kể cả từ hệ thống pháp luật Nhà nước. Điển hình là, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước và Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp cũng như hiện nay đang tổ chức thực thi Hiến pháp mới, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức chống phá dưới dạng tham gia “góp ý”, “kiến nghị”,… trong đó trắng trợn đòi bỏ Điều 4 của Chương I, đòi bỏ hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; rằng, cần phải sửa Chương IV - “Bảo vệ Tổ quốc” với biện giải lố bịch: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, theo đó chỉ có chức năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, chứ không có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào”; rằng, “Quân đội không chịu sự lãnh đạo của Đảng”. Rõ ràng đây là những luận điểm hết sức phản động, hoàn toàn trái với cơ sở lý luận, thực tiễn. Thế nhưng đáng quan ngại là, không phải ai cũng thấy, trong đó có một số ít người do thiếu thông tin và nhận thức hạn chế đã ngộ nhận, cả tin, thậm chí bị “thuyết phục” bởi những luận điệu tuyên truyền độc hại đó. Cũng không nằm ngoài mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, họ còn sử dụng thủ đoạn “vàng thau lẫn lộn”, đánh đồng sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam với binh sĩ quân đội Ngụy quyền Sài Gòn, bằng cách ngụy biện: “họ đều hy sinh vì Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc”, từ đó đòi Nhà nước ta ghi công và cho hưởng chế độ liệt sĩ. Thật nực cười, phi lý! Điều đó cho thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ một thủ đoạn nào hòng đạt cho được mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Và, khi không thực hiện được, họ dở chiêu bài bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Quân đội. Cho nên chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, đồng thời gắn liền với đó, xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị là vấn đề đặc biệt quan trọng, cấp thiết hiện nay.
Thực chất đây là mối quan hệ giữa “bảo vệ và xây dựng”; trong đó, mỗi nội dung có nội hàm riêng, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Khi giải quyết vấn đề này, cần gắn chặt hai nội dung, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào. Sẽ là không đúng, nếu chúng ta chỉ chú trọng một chiều đến yếu tố “bảo vệ”, tức là đấu tranh chống “phi chính trị hóa” quân đội, mà xem nhẹ yếu tố “xây dựng”, mà ở đây là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; tương tự như vậy, nếu chỉ xem trọng yếu tố “xây dựng”, mà không quan tâm đúng mức đến yếu tố “bảo vệ” cũng là sai. Phương pháp nghiên cứu, xem xét và giải quyết đúng đắn vấn đề này là, phải trên cơ sở tư duy biện chứng, khoa học; coi trọng giải quyết đồng bộ cả hai nội dung: đấu tranh làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và đẩy mạnh xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị.
Chủ động đấu tranh làm thất bại thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch
Trước hết, về mặt nhận thức, tư tưởng, cần xác định rõ: CNĐQ, các thế lực thù địch là đối tượng của cách mạng Việt Nam. Họ đã và đang tiến hành chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Do đó, chống “Diễn biến hòa bình” thực sự là “cuộc chiến” không khoan nhượng, diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hết sức quyết liệt, phức tạp. Trong đó, đối tượng mà họ nhằm vô hiệu hóa, trước hết “phi chính trị hóa” là lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là QĐND và Công an nhân dân. Đây là lực lượng có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của họ nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất chỗ dựa vững chắc, mất vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và, một khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị vô hiệu hóa, bị xóa bỏ, thì tất nhiên chế độ XHCN sẽ sụp đổ. Để hiện thực hóa mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội và đạt mục tiêu nêu trên, các thế lực thù địch sử dụng mọi lực lượng, phương tiện, tiền bạc, vật chất và tiến hành bằng mọi biện pháp, mọi “chiêu bài” xảo quyệt, tinh vi, thâm độc, nhưng nhìn chung các hoạt động diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Nội dung mà họ tập trung tuyên truyền chống phá là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Quân đội ta từng bước rời bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, để chống mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đạt hiệu quả cao thì trước hết và quan trọng nhất là phải chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cốt yếu là nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và phải chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, cả lực lượng, phương tiện, vật chất đảm bảo,… với phương pháp tiến hành (cách thức) linh hoạt, chủ động và có hệ thống giải pháp đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong “cuộc chiến” quyết liệt này.
Về lực lượng, cần có lực lượng đấu tranh rộng rãi là toàn dân và lực lượng nòng cốt được tổ chức thành hệ thống trong các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là các viện, trung tâm nghiên cứu, học viện, nhà trường…; trong đó, Quân đội, Công an đóng vai trò xung kích của lực lượng nòng cốt. Những người trong lực lượng nòng cốt phải gồm các nhà nghiên cứu, khoa học có trình độ lý luận chính trị cao, kiến thức rộng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu kinh nghiệm viết bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.
Về phương tiện, gồm các phương tiện truyền thông, đấu tranh trên in-tơ-nét, các trang mạng xã hội, Blog,… kết hợp với các phương thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình và đối tượng. Đối với các cơ quan báo chí, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ, định hướng kịp thời, phân công và phân cấp tuyên truyền về các sự kiện một cách phù hợp; trong đó báo chí quân đội phải là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh chống quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội.
Về phương pháp đấu tranh, cần phải chủ động, linh hoạt, tránh thụ động khi có sự việc phức tạp xảy ra mới tổ chức tuyên truyền, đấu tranh. Quá trình thực hiện phải coi trọng đấu tranh trực diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, hòng làm phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hoặc kích động gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ giữa Quân đội với Công an và Đảng, Nhà nước. Cần kết hợp đấu tranh tuyên truyền chống các luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội một cách thường xuyên với tuyên truyền theo đợt (cao điểm), nhất là vào thời điểm tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và Quân đội.
Về chính sách và cơ chế, cần có chính sách, cơ chế hợp lý nhằm động viên, khuyến khích và bảo vệ những người viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có “phi chính trị hóa” quân đội. Đồng thời, có cơ chế cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền kịp thời và quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng chỉ đạo, quản lý báo chí và sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
Một số giải pháp xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị
Cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã đề cập ở trên, mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ chốt các cấp. Đề cập đến vấn đề này, thoạt nghe có vẻ giáo điều, “muôn thuở”, nhưng thực tế không phải vậy. Trái lại, nó thật sự quan trọng và cấp thiết, nhất là trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” quân đội. Quá trình tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng phải coi trọng mọi đối tượng, coi trọng tính toàn diện; nhưng trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và nội dung trọng tâm là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục giữ vững bản chất giai cấp công nhân, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu cho Quân đội. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp đến đâu cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, luôn trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN. Đồng thời, còn nhằm trang bị “vũ khí luận” cho cán bộ, đảng viên để họ đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Đi đôi với giáo dục chính trị, tư tưởng, cần coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó có mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, quyết định sức mạnh, sự trưởng thành, chiến thắng của QĐND. Vì thế trong thời gian tới chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác này.
Để nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, cần chú trọng kiện toàn cấp ủy gắn với tổ chức chỉ huy đảm bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu; gắn xây dựng cấp ủy viên với cán bộ chủ chốt các cấp; chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương châm: “Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm các vi phạm. Cấp ủy các cấp lãnh đạo chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về tiến hành chuẩn bị tổ chức đại hội đảng nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được làm của Ban Chấp hành Trung ương.
Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,… Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp  và là nguồn động lực tinh thần to lớn cho toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.
Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị. Từ thực tiễn, nhất là qua Sơ kết 9 năm thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) chúng ta cần đánh giá đúng thực chất (cả ưu điểm và hạn chế, tồn tại), rút ra những bài học kinh nghiệm, để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới. Trong đó, cần coi trọng nâng cao phẩm chất, năng lực cho chính ủy, chính trị viên để họ hoàn thành tốt chức trách, cương vị được giao; đồng thời, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các mặt công tác, các nhiệm vụ của đơn vị.
Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN của quân và dân ta được tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường; do đó bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, cũng có không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nổi lên là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với Quân đội ta, họ thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” bằng những hình thức, thủ đoạn mới tinh vi, thâm độc. Cùng với đó là những diễn biến phức tạp mới ở Biển Đông, trực tiếp đe dọa đến chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước tình hình trên, chúng ra cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, mọi thông tin được chuyển tải nhanh, lan tỏa rộng, thì công tác này lại càng quan trọng, nhưng trong thực hiện có không ít khó khăn, phức tạp. Vì thế, công tác thông tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác. Trong đó phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng. Trong khi thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy cảm cần gắn với định hướng tư tưởng, giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi những thông tin xấu độc, trái chiều. Trong thời gian qua, nhìn chung chúng ta thực hiện khá tốt công tác này, nhưng bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, vô tình tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.
Một vấn đề không thể thiếu của quá trình xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Quân đội ta đã trải qua 70 năm xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực tiễn luôn vận động, phát triển, nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn rất quý báu, còn nguyên giá trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay. Do đó, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì vậy, Tổng cục Chính trị, các trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường trong Quân đội có vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được quan tâm đầu tư về mọi mặt, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

GÓC NHÌN KINH TẾ HỌC CHÍNH TRỊ: TRUNG QUỐC XÂY DỰNG 70 KHO CHỨA MÁY BAY TRÁI PHÉP ...

ĐẠI BÀNG XANH: TRUNG QUỐC XÂY DỰNG 70 KHO CHỨA MÁY BAY TRÁI PHÉP ...: 70 kho chứa máy bay Trung Quốc xây trên đảo nhân tạo trái phép ở Biển Đông là mối nguy rất lớn cho những nước trong khu vực, vì chúng có ...

GÓC NHÌN KINH TẾ HỌC CHÍNH TRỊ: TRUNG QUỐC “GÀI” TÊN LỬA SIÊU THANH LÊN TÀU CHỈ HU...

TRUNG QUỐC “GÀI” TÊN LỬA SIÊU THANH LÊN TÀU CHỈ HU...: Trung Quốc đang có nhiều động thái trắng trợn để tăng cường khả năng quân sự ở Biển Đông, gần đây nhất là nâng cấp tàu khu trục nguy hiểm...