THỜI GIAN

MỪNG ĐẢNG, MỪNG XUÂN, MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA - NHỮNG BÀI HỌC CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Cách đây tròn một thế kỷ, thế giới chứng kiến một cuộc cách mạng vĩ đại nhất, đưa chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực - Cách mạng Tháng Mười Nga.
Sự ra đời của Nhà nước Xô Viết chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người đã tạo tiền đề căn bản, quyết định để nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 chống lại chủ nghĩa diệt chủng, phát xít.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và những gì mà cuộc cách mạng này tạo ra có sức lan tỏa, cổ vũ, lôi cuốn, thúc đẩy mãnh liệt đối với phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa của thực dân, đế quốc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh.
Khi đánh giá về vai trò, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(1); “Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Tháng Mười Nga đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của loài người”(2)...
Cách mạng Tháng Mười Nga diễn ra trong bối cảnh phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, song đều thất bại do thiếu đường lối cách mạng phù hợp.
Tiếp thu ánh sáng của học thuyết Mác - Lênin và thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga, bằng phương pháp luận khoa học, nhãn quan chính trị sắc bén, trí tuệ vượt trội và khả năng thiên tài quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ: “Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của V.I. Lênin, con đường cách mạng tháng Mười Nga; muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3).
Để hiện thực hóa chân lý ấy, Người đã tích cực chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử tập hợp, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Để chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quán triệt tư tưởng của Lênin: “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”; “cách mạng phải biết tự bảo vệ và có sức mạnh tự bảo vệ”, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã thường xuyên quan tâm giáo dục cho những người cộng sản, nhân dân lao động nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí, tính cấp bách, chủ trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ chuyên chính với kẻ thù và là chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.
Giác ngộ, tập hợp, phát động đông đảo các giai tầng xã hội “vô luận theo hình thức gì, lối gì, theo sản nghiệp hay nghề nghiệp, tên gọi là gì, các hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương, hội đồng minh, hội hợp tác xã, hội học sinh, hội phụ lão, hội thể thao, ban học tối, hội hát kịch, hội đưa ma, hội lợp nhà...”(4) tham gia các phong trào đấu tranh chính trị rộng khắp, từ đó lựa chọn, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú, dũng cảm, trung thành nhất tổ chức thành các Đội tự vệ đỏ, Đội du kích, Đội tự vệ cứu quốc… là tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân sau này. Chỉ chưa đầy 15 năm (1930 - 1944), lực lượng vũ trang nhân dân từ chỗ chưa có gì đã được xây dựng, phát triển từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến dần hoàn chỉnh với lực lượng “ba thứ quân” hùng hậu ở hầu khắp các địa phương.
Trong những ngày tháng tám lịch sử, tình thế cách mạng chuyển biến tích cực, thời cơ Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, lực lượng vũ trang nhân dân đã phát huy vai trò nòng cốt trong đấu tranh, tiêu diệt địch, hỗ trợ, mở đường cho quần chúng nhân dân đồng loạt tổng khởi nghĩa, phá tan xiềng xích nô lệ, thiết lập chính quyền công - nông trên phạm vi cả nước.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân ta chưa kịp thụ hưởng thành quả từ nền độc lập, tự do mang lại đã phải đối mặt với nguy cơ, thách thức “thù trong, giặc ngoài”, vận mệnh dân tộc và nhà nước công - nông non trẻ rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã dựa vào nhân dân bước vào cuộc đấu tranh sinh tử, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” bảo vệ Đảng, nhân dân và thành quả cách mạng mà nhân dân ta mới giành được.
Bám sát nhiệm vụ cách mạng trong mỗi giai đoạn lịch sử, lực lượng vũ trang nhân dân đã không ngừng được xây dựng, phát triển, trưởng thành về mọi mặt, cùng với toàn Đảng, toàn dân đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, kế hoạch chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước sau đại thắng mùa xuân năm 1975.
Bước vào giai đoạn cách mạng mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch, phản động, chống đối tuy thất bại nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu, ý đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với mọi phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.
Nhiệm vụ cách mạng thay đổi đặt ra yêu cầu cấp bách cho lực lượng vũ trang nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, nhất là chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.
Để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới, lực lượng vũ trang nhân dân tiếp tục được xây dựng, kiện toàn theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó xây dựng chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân là nguyên tắc cơ bản, nhân tố quyết định bản chất, sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, trong suốt chặng đường đã qua, được Đảng và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo, tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được tôi luyện, trưởng thành từ các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, của dân tộc, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, bất luận trong hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thực sự là lực lượng trọng yếu, nòng cốt trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, thế giới đã có những biến động, thay đổi to lớn, sâu sắc, bên cạnh hòa bình, ổn định cũng phải đối mặt với không ít những thách thức về chính trị, an ninh, kinh tế - xã hội. Một trong những thành quả của Cách mạng tháng Mười Nga là Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu - nơi từng là niềm tự hào của nhân loại tiến bộ, “thành trì của hòa bình thế giới” không còn nữa.
Thế nhưng, học thuyết Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị lịch sử, thời đại, đã và đang thôi thúc giai cấp công nhân và những người tiến bộ tiếp tục cống hiến, hy sinh không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh để xây dựng một thế giới hòa bình, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bình đẳng, bác ái, không còn áp bức, bóc lột, không còn những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến xung đột, chiến tranh - đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Đối với nước ta, sự kiện chính trị ở Liên Xô, Đông Âu luôn gợi lên trong tâm thức và nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân bài học cảnh tỉnh về tinh thần kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với nhà nước, xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang nhân dân mang bản chất giai cấp, tính đảng, tính nhân dân sâu sắc.
Trong bối cảnh mới, các thế lực thù địch ráo riết lợi dụng mọi điều kiện, đặc biệt là sự kiện chính trị ở Liên Xô và Đông Âu để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” và các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động chia rẽ, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang với những thủ đoạn vô cùng tinh vi, nham hiểm nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới.
Tuy nhiên, như Lênin đã từng khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”(5). Điều đó đồng nghĩa với việc, trong mọi hoàn cảnh, yếu tố “tự bảo vệ” luôn giữ vai trò quyết định sự tồn vong, phát triển vững mạnh của Đảng, Nhà nước và chế độ, trong đó giữ vững bên trong là chính, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp, tiềm lực, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của lực lượng vũ trang nhân dân là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng.
Tình hình nêu trên đã và đang đặt ra cho lực lượng vũ trang nhân dân những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất nặng nề, phấn đấu hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó, đó là: “bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”(6).
Trong đó, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, sự phối hợp của Quân đội nhân dân, các cấp, các ngành và sự thương yêu, che chở, đùm bọc, giúp đỡ của các tầng lớp nhân dân, lực lượng Công an nhân dân cần tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, vẻ vang của dân tộc, của ngành và các thế hệ cha anh đi trước; nghiên cứu, học tập, quán triệt, nhận thức sâu sắc và phát triển, vận dụng sáng tạo những giá trị lý luận, thực tiễn của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng xã hội ổn định, trật tự, kỷ cương, yên bình, góp phần xây dựng hòa bình trong khu vực và thế giới.
Trong mọi hoàn cảnh, cấp ủy và lãnh đạo công an các cấp, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cần xác định bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả nhưng cũng hết sức nặng nề, khó khăn, gian khổ, phức tạp.
Từ đó, chủ động, nhạy bén, nắm vững các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan và tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội nhân dân và các lực lượng chức năng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện kịp thời, đầy đủ và có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, chiến lược “Diễn biến hoà bình”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch.
Bảo đảm thực chất, hiệu quả, thiết thực công tác “tự phê bình, phê bình”, đợt sinh hoạt chính trị “tự soi, tự sửa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” trong Công an nhân dân.
Chú trọng công tác vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng thế trận an ninh gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân vững chắc.
(Thượng tướng, GS.TS Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an)
************
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T.12, tr.300.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T.12, tr.303.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, T1, tr.9.
4. ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.154.
5. V.I.Lênin - Toàn tập, Tập 39,Nxb Tiến bộ, M.1978, tr.53.
6. Điều 65 Hiến pháp năm 2013

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội

                                    
    Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” (“DBHB”) tiến công vào Quân đội ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TT,VH). Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là mạng in-tơ-nét, các website, blog, tạp chí, tập san, báo, đài phát thanh,… để tán phát các tin, bài, tài liệu có nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Quân đội ta.
     Chúng đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội phi giai cấp”, lực lượng vũ trang “… chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”. Cùng với đó, chúng đòi giải tán hệ thống tổ chức đảng, cơ quan chính trị, chính ủy (chính trị viên) trong Quân đội, hòng chuyển hóa Quân đội ta thành “đội quân chuyên nghiệp, phi đảng phái”,… Trước thực tế quan hệ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế ngày càng phát triển, các thế lực thù địch lại tung ra luận điệu cho rằng: hiện nay Việt Nam không còn kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam không còn đối tượng tác chiến nữa…, hòng tạo nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) Quân đội. Lợi dụng bầu không khí dân chủ của xã hội, khi Đảng và Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chúng xuyên tạc: “Quân đội luôn được coi là công cụ trọng yếu “trước hết” bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước “sau đó” mới bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân”, hoặc kích động rằng: “Bản Hiến pháp mới sẽ trói tay lực lượng vũ trang, kích hoạt những mầm mống nội chiến và tiếp tay cho kẻ thù thực hiện âm mưu xâm lược”,… Đáng chú ý là, chúng đẩy mạnh sử dụng các trang mạng xã hội để truyền tải các thông tin sai lệch, kêu gọi, tập hợp ý kiến, quan điểm “trái chiều”, “phản biện” các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta; đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Chúng còn ra sức bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín của Quân đội; chia rẽ tình đoàn kết máu thịt giữa Quân đội với nhân dân. Lợi dụng vụ cưỡng chế thu hồi đất ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, chúng tung tin vu cáo Quân đội trấn áp nhân dân. Sau các vụ tàu Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp trên vùng Biển của ta, cắt cáp tàu Bình Minh 02 và tàu Vi-king 2, xua đuổi, truy bắt tàu đánh cá của ngư dân ta, chúng vu khống Quân đội không thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc,… Gần đây, Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập quân sự, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, chúng tung tin vu khống Quân đội diễn tập để cướp đất của dân, đàn áp nhân dân, làm mất quyền tự do dân chủ của nhân dân,... Chúng còn kêu gọi Quân đội phải “nhận thức đúng đắn” về mục tiêu hành động là: vì nhân dân, vì dân tộc, chứ “không vì bảo vệ lợi ích của một đảng độc quyền”(?) Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên trong Quân đội có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội…, chúng tìm cách nói xấu, hòng gây chia rẽ nội bộ, làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.
     Có thể khẳng định rằng, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch nhằm vào Quân đội là rất thâm độc, xảo quyệt, được tiến hành với tần suất ngày càng tăng. Mục tiêu cuối cùng của chúng là nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, lái Việt Nam đi sang con đường lệ thuộc vào mục đích của chúng. Với tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, bản lĩnh chính trị vững vàng; luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa đấu tranh với nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng về chính trị, Quân đội đã chủ động, tích cực tiến công và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội được giữ vững, bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, gắn bó máu thịt với nhân dân, kiên định với đường lối đổi mới của Đảng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Quân đội là một lực lượng nòng cốt, đi đầu cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực, chủ động đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Tuy vậy, trong Quân đội vẫn còn một số CB,CS có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, như: chưa nắm vững thực chất tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; còn băn khoăn, lo lắng, thiếu niềm tin vào hiệu quả của việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; còn có thái độ thờ ơ, vô cảm trước những hành vi vi phạm pháp luật, suy đồi về đạo đức, lối sống. Những biểu hiện trên, nếu không được khắc phục, sẽ là mảnh đất tốt để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH nhằm vào Quân đội ta.
     Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, Quân đội phải không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, làm cơ sở để xây dựng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm được điều đó, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp; trong đó, đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH là vấn đề cơ bản, cấp bách nhất.
     Trước hết, phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH. Nhiệm vụ này là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người chỉ huy, nhất là cấp cơ sở nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH là trách nhiệm của Trung ương, của các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu, cơ quan báo chí...; do đó, chưa thật sự coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức phòng, chống “DBHB”. Có nơi, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH còn mang tính hình thức, thậm chí giao khoán cho cơ quan chính trị. Để khắc phục tình trạng đó, cấp ủy các cấp cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH”; đồng thời, rà soát, kiện toàn, xây dựng quy chế, quy định và duy trì có nền nếp chế độ hoạt động của Ban Chỉ đạo. Theo đó, các Đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo của cấp ủy, Trưởng Ban là đồng chí Bí thư Đảng ủy; các cấp ủy còn lại, đồng chí Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo. Hằng năm, Ban Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình hoạt động; cấp ủy xây dựng kế hoạch đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH ở cấp mình, đề ra những chủ trương, biện pháp sát với đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh, mang lại hiệu quả thiết thực. Mặt khác, phải tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các đơn vị.
     Hai là, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội. Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với CB,CS trong phòng, chống chiến lược “DBHB” nói riêng. Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho CB,CS, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, phải tập trung làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhạy cảm; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Đồng thời, trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như các vấn đề khác do cuộc sống đặt ra; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, Quân đội và đơn vị, các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… Trong quá trình tiến hành, cấp ủy các đơn vị cần vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thực hiện có nền nếp, chất lượng Ngày chính trị - văn hoá - tinh thần; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Các đơn vị cần duy trì chặt chẽ các chế độ: thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; thực hiện có chất lượng Ngày Đảng, Ngày Pháp luật; đổi mới hoạt động quản lý, nắm và giải quyết tư tưởng với mọi quân nhân tại đơn vị.
     Ba là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, là biện pháp cơ bản để Quân đội đấu tranh có hiệu quả chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, các cấp cần phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; đồng thời, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Với phương châm gắn chặt giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính, cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo xây dựng nội bộ từng đơn vị vững mạnh về mọi mặt; trong đó, chú trọng gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, tạo nền tảng vững chắc trong đấu tranh phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH. Cùng với đó, các đơn vị cần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng, cửa quyền…, tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, không để xảy ra hiện tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng trong cơ quan, đơn vị bị kẻ địch lôi kéo, móc nối; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những quan điểm, tư tưởng sai trái thẩm lậu vào đơn vị. Một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là, cấp ủy các cấp cần gắn giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức cách mạng với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trọng tâm là khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, công tác cán bộ. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định về quản lý nội bộ, quản lý tài liệu và bảo vệ chính trị nội bộ; không để các ấn phẩm văn hoá độc hại, tài liệu phản động thẩm lậu vào đơn vị; quản lý chặt chẽ thông tin qua mạng in-tơ-nét, điện thoại di động, không để CB,CS bị tác động bởi những diễn đàn xấu độc.
     Bốn làđẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, lực lượng đấu tranh chuyên sâu và hệ thống thiết chế văn hóa. Các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, các cơ quan chức năng, đội ngũ các nhà khoa học trong Quân đội cần triển khai các đề tài, công trình nghiên cứu lý luận, nhất là những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH ở nước ta, về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội,... Thường xuyên bám sát đời sống mọi mặt tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, chủ động dự báo sự vận động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, những khuynh hướng, tình huống có thể xảy ra đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó, dự báo nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ là việc làm rất quan trọng. Việc nghiên cứu, dự báo cần được thực hiện ở các quy mô khác nhau, ở nhiều loại hình cơ quan, đơn vị; qua đó, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp phòng, chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Các đơn vị cần coi trọng việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản, phương tiện truyền thông, các đơn vị nghệ thuật Quân đội trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang,... có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Toàn quân cần tiếp tục củng cố và nhân rộng lực lượng đấu tranh trên mạng; coi trọng những người có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có khả năng diễn đạt và dũng khí, quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bên cạnh đó, cần thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn quân sự của các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu và các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí quân đội. Đồng thời, quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, có cơ chế, chính sách bảo vệ, khen thưởng phù hợp đối với những lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, tạo sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả; khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm” hoặc phối hợp, hiệp đồng mang tính “thời vụ”. Các đơn vị phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CB,CS; phát huy có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, tạo môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh trong từng cơ quan, đơn vị.
     Thực hiện tốt các giải pháp trên đây là bảo đảm quan trọng để đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực TT,VH, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Phạm Trần lừa bịp được ai?

Trong danh sách những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, Phạm Trần là một trong những kẻ hăng hái nhất. Mới đây, trên trang mạng “danlambao”, y lại đăng tải một bài viết với tiêu đề hết sức xấc xược: “Những cái đầu đất sét made in Việt Nam”. Giọng điệu đầy cay cú trong bài viết cho thấy, Phạm Trần cuồng loạn trên con đường chống phá Đảng và chế độ ta.
Thứ nhất, lặp lại những xuyên tạc cũ rích về công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền của nhân dân ta. Với luận điệu hồ đồ: “Nước Việt Nam đã có độc lập trên hình thức nhưng lãnh thổ không vẹn toàn là của Việt Nam”!, Phạm Trần lớn giọng thách thức: “Đã có ai trong Đảng Cộng sản Việt Nam chứng minh được lãnh thổ Việt Nam không bị Trung Hoa chiếm một mảng lớn trên đất liền, sau 2 cuộc chiến tranh biên giới 1979-1990?”. Không hiểu ông ta không chịu đọc, không chịu tìm hiểu lịch sử, hay biết rồi mà cố tình nhắm mắt xuyên tạc sự thật rằng: sau hai cuộc chiến tranh biên giới, với tinh thần dấu tranh anh dũng, kiên cường, quân và dân ta đã bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không để một tấc đất nào của cha ông bị rơi vào tay kẻ thù xâm lược. Đảng, Nhà nước ta luôn đưa ra quan điểm và chứng cứ sáng tỏ cho điều đó. Phạm Trần cho rằng, trước đây ta nói “nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” nay chuyển thành nước Việt Nam từ “Cao Bằng đến mũi Cà Mau” tức là ta đã chấp nhận mất một phần lãnh thổ. Đây là luận điệu hết sức nhảm nhí. Vì sao? Thứ nhất, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định điểm cực Bắc của đất nước là Lũng Cú – Hà Giang, không phải từ Cao Bằng, đó chỉ là câu nói xuyên tạc của Phạm Trần. Thứ hai, không có ai vì câu nói “nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” mà cho rằng Ải Nam Quan là một phần lãnh thổ của Việt Nam trong lịch sử. Sự thật là gì? Ải Nam Quan, thực ra là từ để chỉ cả dãy núi vắt dài từ Việt Nam sang Trung Quốc (như ải Chi Lăng), ở đây có Trấn Nam Quan (cửa ải để trấn phương Nam) nằm bên phần đất Trung Quốc do các triều đại phong kiến Trung Quốc xây dựng và tồn tại cho đến ngày nay. Biên bản hoạch định Pháp – Thanh năm 1886 quy định rằng đường biên giới “nằm ở phía Nam ải Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến làng Đồng Đăng”. Khi phân giới, hai bên đã cắm mốc số 18 để xác định đường biên giới và vị trí của mốc này cũng được mô tả là nằm trên đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng (mốc này đã bị mất); còn trên bản đồ cắm mốc Pháp – Thanh năm 1894 thì địa danh Nam Quan nằm ở phía Bắc đường biên giới. Như vậy, đường biên giới luôn luôn ở phía Nam của Nam Quan, chứ không phải đi qua địa danh đó. Phạm Trần nếu chưa biết cứ liệu lịch sử này, thì tìm hiểu cho có ngọn có ngành, rồi nói sao cho đúng.
Còn về việc bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa, không cần nói thì ai ai cũng biết, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa bao giờ “buông bỏ” những phần lãnh thổ thiêng liêng này của dân tộc. Chúng ta vẫn đang đấu tranh không ngừng nghỉ để đòi lại những phần lãnh thổ đã bị nước ngoài chiếm giữ trái phép, đồng thời bảo vệ vững chắc từng hòn đảo, từng bãi đá, từng mét nước biển khơi. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể mà Đảng ta chủ trương sử dụng biện pháp đấu tranh nào cho phù hợp, hiệu quả. Chiến tranh chỉ là biện pháp cuối cùng. Cái mà Phạm Trần nói rằng ta “không dám đụng tới quân Tàu đang kiểm soát” là gì? Phải chăng theo ông cứ phải “nhắm mắt nhắm mũi” phát động chiến tranh, không cần cân nhắc đến bất cứ thứ gì khác thì mới là bảo vệ chủ quyền?
Thứ hai, tiếp tục đánh tráo bản chất của cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ của nhân dân ta. Phạm Trần, một lần nữa, cũng như những “đồng bọn” của ông ta đã từng làm, là quy hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta thành những cuộc “nội chiến”! Luận điệu này, như nhiều nhà khoa học đã lên tiếng phản bác, đó là sự xúc phạm to lớn đối với lịch sử dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã không tiếc máu xương, chiến đấu, hy sinh đánh đuổi những kẻ thù xâm lăng hung bạo nhất, bảo vệ độc lập dân tộc. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại ấy không chỉ có ý nghĩa đối với chính dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc trên thế giới. Tinh thần đấu tranh ngoan cường, bất khuất của dân tộc ta được cả thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh. Sự hy sinh, mất mát của mỗi một người dân, mỗi một người lính trong hai cuộc chiến tranh ấy đều mang ý nghĩa sâu sắc, bởi nó góp phần đem lại nền độc lập cho đất nước. Cớ làm sao mà Phạm Trần lại coi đó như những cái chết oan uổng do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra?! Sự xúc phạm này không một người dân Việt Nam nào có thể dung thứ được cho ông.
Thứ ba, cố tình quy kết sai lầm, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện cải cách ruộng đất thành bản chất của Đảng ta. Công cuộc cải cách ruộng đất do Đảng ta thực hiện vào những năm 1953-1956 đến nay vẫn là một trong những “cái cớ” để những kẻ phản động như Phạm Trần không ngừng quy kết, thổi phồng, xuyên tạc để nói xấu Đảng. Thực tế, Đảng ta tiến hành cải cách ruộng đất với mục đích hoàn toàn tốt đẹp: 1. Tịch thu tài sản ruộng đất do người Pháp, người dân di cư, hay Việt gian (những người theo Pháp) bỏ lại, hay bỏ hoang vì chiến tranh;2. Phân chia cho tá điền; 3. Cắt giảm địa tô; 4. Bãi bỏ mọi khoản tiền thuê ruộng; 5. Phục vụ cho nhiệm vụ tối cao của dân tộc lúc đó là đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện, chúng ta đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai nhận khuyết điểm và xin lỗi trước nhân dân, đồng thời triển khai kế hoạch sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Nhân dân ta ghi nhận sự thẳng thắn, trung thực, dám nhận trách nhiệm đó của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục một lòng tin theo sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Không có cớ gì chỉ vì những sai lầm, khuyết điểm đó mà lại cho rằng Đảng ta “nhúng tay tàn sát hàng chục ngàn nạn nhân” như Phạm Trần vu khống. Trải qua thời gian, với đủ độ lùi lịch sử cần thiết để nhìn nhận lại sự kiện đã qua, nhân dân ta vẫn chưa bao giờ coi đó là một “tội ác” của Đảng như những kẻ phản động như Phạm Trần đang cố tình quy kết, áp đặt.
Thứ tư, Phạm Trần bộc lộ rõ hơn sự non kém, đuối lý của mình. Trong cả bài viết, với giọng điệu đầy tính mỉa mai, bằng những ngôn từ ngông ngáo, xấc xược như “đầu đất sét”, “ấm ớ”, “cố bao biện”… Phạm Trần tìm mọi cách để hạ bệ những lập luận khoa học đầy sức thuyết phục của đồng chí Hà Đăng – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương; của Giáo sư Tạ Ngọc Tấn – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Nhưng khổ nỗi, giọng điệu và ngôn từ ấy không đủ sức để che đi sự đuối lý của mình. Ông đưa ra những trích dẫn bài viết của các nhà khoa học này để bôi nhọ, đả phá, nhưng càng đưa ra bao nhiêu, người đọc lại càng thấy những lập luận của các nhà khoa học này lại giàu sức thuyết phục bấy nhiêu, còn lập luận, suy diễn của ông ta thì ngược lại, hoàn toàn nhảm nhí và không có bất kỳ một sức thuyết phục nào.
Phạm Trần chẳng những không lừa bịp được ai, mà còn bộc lộ hết thảy mọi sự dốt nát của ông ta. Thay vì ngồi đó chửi bới lung tung, Phạm Trần nên giành thời gian học lại, suy nghĩ lại những điều mà ông ta đang đề cập đến. Chừng nào đủ kiến thức và sự tỉnh táo, ông ta sẽ tự khắc thấy được tất cả những sai lầm, hồ đồ, nhảm nhí của mình./.
Tác giả: Anh Đài
 Nguồn: www.nhanvanviet.com

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

LỜI TRI ÂN TỪ HỌC VIÊN

 NHÂN DỊP NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3, THAY MẶT THẾ HỆ HỌC VIÊN NHÀ TRƯỜNG TẶNG THẾ HỆ PHỤ NỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ

Bên “Vườn hoa Phụ nữ” giữa ngày xuân
Lòng Chị ngân nga câu Quan họ
Lời mượt mà quyện màu xanh Thành Cổ
Thêu dệt bức tranh đẹp mái trường này.
                 Hơn bốn chục năm gắn bó nơi đây
                 Các Chị cùng Thầy, Cô sánh bước.
                 Ngàn vạn con tim trên mọi miền Tổ quốc
                 Không mờ phai bóng dáng những “Chị hiền”.
Khi gió Đông về, lạnh bếp học viên
Trăn trở làm sao cho thức ăn luôn nóng.
Lúc ốm mệt, nhận từng viên thuốc đắng
Tay Chị trao, tôi ngọt ấm trong lòng.
                 Tài liệu, giáo trình, tri thức mênh mông
                 Tìm sao được nếu thiếu bàn tay Chị.
                 Gần trăm giảng đường mấy khi ngơi nghỉ
                 Sạch, gọn gàng có “Cô Tấm” chăm lo.
Đường phong quang, tô đẹp những khóm hoa
Nhờ tiếng chổi tre sau đêm mưa, gió bấc.
Dòng mồ hôi bên cửa lò đốt rác
Nhắc chúng tôi trân quý sức con người.
                 Phía sau Chị còn cả một tương lai
                 Những đứa trẻ tan tầm chưa kịp đón
                 Ông bà ở xa, phải nhờ hàng xóm
                 Ăn “trực” bữa cơm. Mẹ bận, chưa về.
Mùa nóng oi, mất điện giữa đêm khuya
Ngồi thức quạt cho con thơ ngon giấc
Trời sáng dần mà chưa hề chợp mắt
Báo thức, kèn vang giục giã mẹ rồi.
                 Bao nỗi niềm, tôi hiểu lắm Chị ơi!
                 Công ơn ấy đâu cần ghi sử sách  
                 Vẫn theo tôi đi dọc ngang trời đất
                 Cùng tình yêu tha thiết mái trường này./.
TÁC GIẢ: Trung tướng, PGS, TS Phạm Quốc Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

“Để một mai tung cánh hướng chân trời…”

     Như một cơ duyên, trong lần tham gia Ngày thơ Việt Nam lần thứ XV do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh tổ chức, tôi được đọc một bài thơ của một người lính trong thời bình…Trên con đường khám phá vẻ đẹp văn chương, không ít lần tôi cảm nhận được nét đẹp của những hồn thơ chiến sĩ, đó là vẻ đẹp của người chiến sĩ nông dân áo vải, là vẻ đẹp của người lính Hà Thành oai hùng, hào hoa, hay là vẻ đẹp của anh giải phóng quân trong những bài thơ mà tôi đã từng đọc. Tôi cứ ngỡ, những trang thơ viết về người lính chỉ có thế, và có chăng hình tượng của người lính chỉ lung linh trong thời chiến, còn thời bình thì…thật hiếm! Nhưng cho đến ngày hôm nay, khi tôi đọc bài thơ “40 mùa chim xây tổ” của Trung tướng, PGS, TS Phạm Quốc Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị, tôi mới nhận ra bấy lâu nay mình đã thật nhầm…
     Tôi nhận ra chất thơ trong tâm hồn của người lính. Cứ ngỡ rằng quân đội là khô khan, quân sự chỉ biết đến hành quân và súng đạn, nào đâu có chỗ cho thơ ca, giờ mới vỡ, có những lúc hồn lính cũng “thơ” đến thế “Sắc màu nhân văn lan tỏa nơi nơi/ Bên cây súng luôn có đàn, có sách”. Đọc hai câu “Hoa khoe sắc bên dây phơi áo lính/ Giúp thăng hoa “câu quan họ yếm đào”, tôi hình dung ra một người chiến sĩ được quyện hòa bởi hai nét đẹp: một nét đẹp đậm chất lính” và một nét đẹp đậm chất nghệ sĩ. Bởi lẽ, đâu phải ai cũng nhìn ra vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên ở những chốn tưởng như là bình thường nhất? Trong một khung cảnh rất đời thường “dây phơi áo lính”, người chiến sĩ lại nhìn ra một nét đẹp rất… thơ.  Ở một nơi người ta có thể dễ dàng lãng quên thì tác giả lại nhớ, nhớ với một kỉ niệm, nhớ với một hình ảnh nghệ thuật. Và câu tiếp Giúp thăng hoa “câu quan họ yếm đào” như một nốt thăng cho phẩm chất nghệ sĩ ấy. Hoa đẹp khiến câu quan họ nên thơ, hay chính tâm hồn đậm chất thơ nên nhìn đâu cũng cảm nhận được vẻ đẹp?
     Tôi nhìn thấy khát khao của một người lính. Khát khao hòa bình ư? Sẽ là chưa đủ. Tầm nhìn của tác giả còn xa hơn hơn thế. Nếu chỉ đọc nhan đề “40 mùa chim xây tổ”, có lẽ, đa phần chúng ta chỉ nghĩ đến quá trình hình thành, quá trình vun đắp Thế nhưng, khi để tâm, người ta còn thấy một khát khao đọng lại ở cuối bài: “Để một mai tung cánh hướng chân trời”. 40 năm là một chặng đường gian lao cùng nhân dân dựng xây đất nước. Oai hùng có, bi thương… cũng có. Người ta nói: “Ôn cố tri tân” - nhìn lại điều cũ để hướng tới điều mới là vậy. Nhìn lại chặng đường đã đi với gian nan, nhọc nhằn, với những hy sinh đã làm nên màu cờ sắc áo, khói hương đau thương của ngày hôm qua đã nhuộm xanh hy vọng của ngày hôm nay. Là người đứng đầu của ngôi trường có tuổi đời hơn 40 năm, dường như tác giả đặt tất cả niềm kì vọng vào các thế hệ sau. Những đàn chim không chỉ về xây tổ mà còn tung cánh trên những miền đất mới, những chân trời mới. Chiến tranh đã đi qua, những kí ức về thời trận mạc đã trở thành dĩ vãng, gìn giữ đất nước chưa bao giờ là đủ. Thời bình, gìn giữ phải đi liền với phát triển, xây tổ nhưng cũng đừng quên tung cánh giữa không trung - phải chăng, đây là điều tác giả muốn gửi gắm?

     “Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trên thực tế và trong những trang sách…”. Hành trình khám phá vẻ đẹp văn chương của tôi cũng thú vị biết bao khi được đọc những trang viết đậm chất thời đại như bài thơ này. Cảm ơn tác giả vì đã cho độc giả thưởng thức một bài thơ hay. Cảm ơn chất thơ của một người lính đã giúp tôi nhận ra chất thơ của mọi người lính. Cảm ơn thế hệ đi trước đã nhắc nhở thế hệ đi sau một nhiệm vụ vẻ vang!
http://daihocchinhtri.edu.vn/vi/news/Hoat-dong-CTD-CTCT/De-mot-mai-tung-canh-huong-chan-troi-794/